Phần mở đầu và Kết luận, luận văn có kết cấu gồm 4 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận cơ bản về môi trƣờng đầu tƣ để thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích và đánh giá thực trạng môi trƣờng đầu tƣ trong thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2015. Chƣơng 4: Giải pháp nhằm hoàn thiện môi trƣờng đầu tƣ để thu hút FDI trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ ĐỂ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI.
Tổng quan tình hình nghiên cứu. Môi trƣờng đầu tƣ có vai trò quan trọng đối với hoạt động thu hút vốn đầu tƣ, do đó, nghiên cứu về hoàn thiện môi trƣờng đầu tƣ có ý nghĩa thời sự thu hút sự nghiên cứu của nhiều tác giả, có thể liệt kê một số công trình sau đây: Nghiên cứu của Chu Thị Kim Loan, Trần Hữu Cƣờng, Nguyễn Hùng Anh (2010) về Một số giải pháp nhằm cải thiện môi trƣờng đầu tƣ vào nông nghiệp của Hà Nội. Nghiên cứu khẳng định mặc dù Hà Nội là một trong những địa phƣơng thu hút đƣợc nhiều dự án đầu tƣ từ các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc nhƣng trên thực tế số lƣợng dự án đầu tƣ vào lĩnh vực nông nghiệp so với các ngành kinh tế khác còn khá khiêm tốn. Vì vậy, cải thiện môi trƣờng đầu tƣ trong lĩnh vực nông nghiệp của Hà Nội là cần quan trọng đối với sự phát triển của thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào kết quả đánh giá về môi trƣờng đầu tƣ vào nông nghiệp của Hà Nội, định hƣớng phát triển và đầu tƣ vào nông nghiệp của Hà Nội, cũng nhƣ một số ý kiến của các chủ đầu tƣ về giải pháp cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, nghiên cứu này đã đề xuất 08 giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trƣờng đầu tƣ trong lĩnh vực nông nghiệp của Hà Nội. Hai nhóm giải pháp đầu tiên cần đƣợc chú ý tới là: hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách nhằm tăng khả năng tiếp cận đến nguồn lực đất đai và vốn của chủ đầu tƣ, nâng cao mức ƣu đãi, hỗ trợ cho các nhà đầu tƣ vào nông nghiệp. Bên cạnh đó, thành phố cần quan tâm tới các giải pháp khác nhƣ cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn; hoàn thiện hệ thống thị trƣờng; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; tăng cƣờng sự liên kết, phối hợp giữa các ban ngành và tổ chức; nâng cao chất lựợng nguồn lao động, và tăng cƣờng công tác xúc tiến đầu tƣ. Nghiên cứu của Mark Gillin (2013) về Môi trƣờng đầu tƣ tại Việt Nam trình bày tại Hội thảo 25 năm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam cũng đã có những đánh giá khái quát chung về môi trƣờng đầu tƣ của Việt Nam đối với doanh nghiệp Mỹ, từ đó chỉ ra rằng Việt Nam là quốc gia châu Á duy nhất rớt hạng trong bảng xếp hạng, từ vị trí thứ 12 trong năm 2010 xuống vị trí thứ 14 vào năm 2011.
Trong khi đó Indonesia đã tăng hạng từ vị trí thứ 20 trong năm 2010 lên vị trí thứ 9 năm 2011, và vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đạt mức kỷ lục 19,3 tỷ đô la Mỹ, gấp đôi năm trƣớc. Ngoài ra, Malaysia cũng tăng hạng từ vị trí thứ 21 lên vị trí thứ 10. Vì vậy, rõ ràng Việt Nam có một số đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ về FDI trong ASEAN. Bên cạnh đó, Việt Nam dƣờng nhƣ còn thiếu việc khởi xƣớng việc làm thế nào để thực hiện chiến lƣợc: “Việt Nam nên bắt đầu từ đâu, và làm nhƣ thế nào, vẫn còn là một câu hỏi.” Nguy cơ này không chỉ đem đến cho Việt Nam sự thất bại trong quá trình tiến lên là quốc gia có thu nhập ngƣời dân đạt mức trung bình, “sản xuất hiện đại”, và kinh tế dịch vụ, mà còn cho thấy rằng không có khả năng cạnh tranh ngay cả trong vai trò “nhà máy đối tác” sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dƣ thấp so với những thị trƣờng mới nổi lên và sản phẩm cơ bản.
Điều này có thể dẫn đến một sự mất mát FDI hiện tại và hàng triệu công ăn việc làm tại Việt Nam. Nghiên cứu của Khổng Văn Thắng và Trịnh Bích Toàn (2013) về Cải cách Thủ tục hành chính động lực thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại tỉnh Bắc Ninh đã cho rằng cải cách hành chính là một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội. Chính vì thế mà trong những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã tích cực và thực hiện đồng bộ việc cải cách hành chính theo hƣớng một cửa, một cửa liên thông hiện đại để làm cho bộ máy hành chính của tỉnh hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bƣớc chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính, là ngƣời đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, bộ máy hành chính. Nhờ những động thái tích cực này mà thu hút đầu tƣ vào Bắc Ninh nói chung và nhất là thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài (FDI) nói riêng trong nhiều năm qua luôn đứng tốp đầu cả nƣớc.
Đặc biệt chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Ninh liên tục nhiều năm qua có sự cải tiến vƣợt bậc năm sau cao hơn năm trƣớc từ vị trí thứ 20 năm 2007 đến hết 2011 đã lên thứ 2 toàn quốc; vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đang là động lực chính để giúp tỉnh Bắc Ninh đến 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Mạnh Hà (2014) về Môi trƣờng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở tỉnh Vĩnh Phúc của tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trƣờng thu hút vốn đầu tƣ và tác động đến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, trên cơ sở đó luận văn phân tích thực trạng môi trƣờng thu hút vốn đầu tƣ và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) ở Vĩnh Phúc trong thời gian từ 2005 đến tháng 10 năm 3013. Dựa trên đánh giá những tồn tại và hạn chế, luận văn đã đề xuất một số phƣơng hƣớng và biện pháp cải thiện môi trƣờng đầu tƣ nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn FDI tại Vĩnh Phúc thời gian đến năm 2015. Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Anh (2014) về Hoàn thiện môi trƣờng đầu tƣ nhằm tăng cƣờng thu hút FDI ở Hải Phòng cũng đã khẳng định thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là một chủ trƣơng lâu dài và nhất quán của Đảng và Nhà nƣớc ta, nó đã và đang tác động tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu của chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc ta nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.
Theo đó, môi trƣờng đầu tƣ hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tƣ. Hải Phòng là một thành phố có nhiều lợi thế trong thu hút FDI. Những thành quả và kinh nghiệm đã thu đƣợc trong hoạt động FDI của thành phố là rất quan trọng, tạo tiền đề cho việc thu hút nhiều hơn các nguồn vốn quốc tế. Tuy nhiên, dù đã đạt đƣợc những kết quả đáng ghi nhận nhƣng so với tiềm năng và nhu cầu về nguồn vốn FDI để phát triển thì khối lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng các dự án FDI chƣa tƣơng xứng, chƣa đáp ứng kỳ vọng để phát triển nhanh và bền vững kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng.
Do đó, luận văn đƣa ra một số giải pháp nhằm cải thiện môi trƣờng đầu tƣ để tăng cƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hải Phòng nhƣ đề xuất thay đổi cách tƣ duy và tiếp cận FDI, hoàn thiện quy hoạch và kế hoạch thu hút FDI, đồng thời rà soát lại các dự án, tình hình hoạt động của các dự án, hoàn thiện chính sách đầu tƣ, đặc biệt là chính sách ƣu đãi đầu tƣ cho các dự án công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, đóng góp vào bảo vệ môi trƣờng, tạo nhiều việc làm. Nhìn chung, các tác giả đã nghiên cứu môi trƣờng đầu tƣ ở nhiều góc độ khác nhau, nhƣ: khái niệm về môi trƣờng đầu tƣ, vai trò, tác động của nó đến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nghiên cứu thực trạng môi trƣờng đầu tƣ ở Việt Nam nói chung và một số địa phƣơng nói riêng. Trên cơ sở những nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân hạn chế, để từ đó đƣa ra những giải pháp phù hợp nhằm cải thiện môi trƣờng đầu tƣ. Tuy nhiên, với đối tƣợng nghiên cứu là môi trƣờng đầu tƣ của tỉnh Thanh Hóa, trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12, Đại hội Đảng bộ của tỉnh Thanh Hóa lần thứ 18 và triển khai Nghị quyết số 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong việc cải thiện môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015; nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trƣờng đầu tƣ kinh doanh giai đoạn 2016 - 2020, nên luận văn vẫn có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và không trùng lặp với các công trình nêu trên.
Một số vấn đề lý luận về môi trƣờng đầu tƣ để thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Khái niệm môi trường đầu tư Môi trƣờng đầu tƣ là một thuật ngữ đã đƣợc nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều nƣớc trên thế giới. Thuật ngữ môi trƣờng đầu tƣ không phải mới mẻ, nhƣng đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này. Bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức nào cũng không tồn tại một cách biệt lập mà thƣờng xuyên tác động qua lại với môi trƣờng.
Những sự thay đổi từ các yếu tố môi trƣờng xung quanh, có thể tạo ra những cơ hội, những thách thức hoặc rủi ro ảnh hƣởng đến quyết định đầu tƣ hoặc kết quả đầu tƣ.