CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm liên quan đến công tác hỗ trợ đào tạo nghề 1. Khái niệm đào tạo nghề Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn. Có rất nhiều cách hiểu về nghề.
Có quan điểm cho rằng “Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội”[14]. Có nghĩa là nghề là một công việc phải do rèn luyện, học tập mới có. Theo cách tiếp cận khác, “Nghề là một hình thức phân công lao động, nó được biểu thị bằng những kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Những công việc được sắp xếp vào một nghề là những công việc đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp như nhau, thực hiện trên những máy móc, thiết bị, dụng cụ tương ứng như nhau, tạo ra sản phẩm thuộc về cùng một dạng”[14].
Quan điểm khác lại cho rằng “Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”[1]. Dù có nhiều cách hiểu khác nhau về nghề, song tựu chung lại thì nghề không phải là một cái gì đó cố định. Hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề rất lớn, nhưng nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của xã hội và khoa học công nghệ, nghề nghiệp cũng có sự biến động.
Có lúc một nghề nào đó rất 10 phát triển và thu hút rất nhiều lao động, nhưng có lúc nghề đó lại trở nên lạc hậu, phải thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất, hoặc bị mất đi, không còn ai muốn theo nghề đó nữa. Nhiều nghề mới xuất hiện và phát triển đa dạng hơn. Ví dụ, sự phát triển của kỹ thuật điện tử đã làm hình thành nên các nghề về công nghệ tin học, kỹ thuật điện tử như thiết kế đồ họa, chế tạo phần cứng, phần mềm…, cùng với đó là sự gần như biến mất của nghề viết thư thuê, đánh máy chữ, những nghề mà ở những thập niên 80 của thế kỷ trước được coi là những nghề hái ra tiền. Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện.
Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau. Dù là nghề nào đi chăng nữa, thì nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội. Muốn thành thạo một nghề nào đó thì phải trải qua quá trình đào tạo, hướng dẫn, rèn luyện. Trên thực tế, có những nghề không đòi hỏi phải đào tạo trong một hệ thống, theo chương trình học nào đó, mà diễn ra tự phát theo nhu cầu của đời sống xã hội hoặc được truyền nghề, ta gọi đó là nghề xã hội.
Ngược lại, nghề đào tạo là những nghề mà để nắm vững được nó, đòi hỏi người học phải có trình độ văn hóa nhất định, được đào tạo theo một chương trình có tính hệ thống, được cấp bằng hoặc chứng chỉ, mỗi nghề đào tạo khác nhau về nội dung chương trình đào tạo, thời gian đào tạo. Trong hệ thống nghề đào tạo có hai dạng là đào tạo lao động kỹ thuật hệ thực hành và đào tạo lao động chuyên môn hệ hàn lâm. Lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm bao gồm chủ yếu là lao động qua đào tạo ở cấp trình độ đại học, sau đại học, đào tạo thiên về kiến thức hàn lâm, kiến thức lý thuyết và làm các công việc như nghiên cứu khoa học, nhà quản lý, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nhau… Lao động kỹ thuật hệ thực hành là lao động đã được đào tạo qua các cấp trình độ nghề kỹ thuật, trung cấp kỹ thuật, cao đẳng 11 kỹ thuật thực hành, đại học kỹ thuật thực hành. Hệ thống đào tạo này thực hiện việc đào tạo các chuyên ngành về kỹ thuật, công nghệ, nghiệp vụ nhưng đào tạo nặng hơn về thực hành.
Lao động này làm các công việc như kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật… Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong phạm vi nghiên cứu luận văn chỉ nghiên cứu nghề trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương bao gồm công nhân kỹ thuật được đào tạo chính quy tại các trường, lớp dạy nghề, nhân viên nghiệp vụ và phổ cập nghề cho người lao động. Nói đến đào tạo là đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Tổ chức lao động thế giới (ILO) đưa ra khái niệm: đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao. Theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là việc làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định.
“Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định”[1]. Theo quan điểm của các nhà quản lý giáo dục, “đào tạo là quá trình hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội cần thiết”. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014[6] có quy định: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo 12 việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”.
Mục tiêu của đào tạo nghề Mục tiêu của đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc điểm của đào tạo nghề Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Người học sau thời gian đào tạo được trang bị kiến thức nghề, kỹ năng làm việc để có khả năng đáp ứng được các yêu cầu công việc của người tuyển dụng, được nhận làm tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hoặc tự tạo việc làm cho mình, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống. Những người có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là nông dân càng cần được đào tạo nghề để họ có thể nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống.
Đào tạo nghề hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc. Người lao động nông thôn khi đã được đào tạo nghề thì họ sẽ dần tìm được việc làm không chỉ ở thành thị mà có thể tạo việc làm ngay cả ở nông thôn, sản xuất được mở rộng, kinh tế phát triển hơn, sự cách biệt giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn được rút ngắn. Họ không chỉ đơn thuần là lao động chân tay mà có thể kết hợp với những tri thức tiếp thu được để áp dụng vào lao động sản xuất. Sự liên kết giữa các bên tham gia ở các khâu của đào tạo nghề.
Từ khâu tuyển sinh đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra phải có sự phối hợp 13 ăn ý giữa chính quyền - đại diện quản lý nhà nước, doanh nghiệp - đại diện tiếp nhận lao động qua đào tạo nghề, người lao động - đại diện bên hưởng thụ hỗ trợ dự án. Trong đó, chính quyền quản lý đóng vai trò cầu nối trung gian cho nhà tuyển dụng doanh nghiệp và người lao động, thường xuyên điều tra khảo sát nhu cầu lao động của nhà tuyển dụng lao động và thông tin rộng rãi đến các cấp và trực tiếp đến người lao động, đặc biệt người lao động chưa có việc làm hoặc mới nghỉ việc. Tính liên kết trong đào tạo nghề không thể thiếu đối với bất kỳ mô hình đào tạo, từ truyền thống cho đến hiện đại. Các loại hình đào tạo nghề Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới 1 năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập hợp đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên. Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. Căn cứ vào đối tượng học viên: Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có trình độ, kiến thức, kỹ năng về một nghề, đào tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động có tay nghề.