CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Trên quan điểm vĩ mô của tác giả William F.Flower cho rằng: “Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) trong tương lai”. Dưới góc độ là một môn khoa học nghiên cứu những quy luật kinh tế vận động trong lĩnh vực đầu tư thì hoạt động đầu tư được định nghĩa như sau: “Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế- xã hội nhất định”. Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội.
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ. Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia.
Giáo trình Kinh tế Đầu tư (2013), NXB trường Đại học kinh tế Quốc Dân có nêu “Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản mới cho doanh nghiệp, tạo thêm việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống các thành viên trong đơn vị”.2 Vai trò của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Đầu tư phát triển quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị, đổi mới khoa học công nghệ. Quá trình đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một doanh nghiệp được thể hiện qua các mặt sau: Thứ nhất, đầu tư phát triển tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hiện nay, với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các doanh nghiệp cùng lĩnh vực, nhu cầu của con người ngày càng nhiều hơn, đòi hỏi chất lượng sản phẩm dịch vụ tốt hơn, đó chính là thách thức rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp làm thế nào để doanh nghiệp mình được khách hàng lựa chọn. Đầu tư phát triển giúp mỗi doanh nghiệp có những chiến lược riêng, những lợi thế riêng để giành được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Thứ hai, đầu tư phát triển tạo điều kiện nâng cao chẩt lượng sản phẩm Khi thực hiện hoạt động đầu tư phát triển, các doanh nghiệp tìm cách đổi mới dây chuyền công nghệ, khoa học kĩ thuật hiện đại hơn, giúp năng suất tăng nhanh hơn, cải thiện mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tiến bộ của người tiêu dùng.
Thứ ba, đầu tư phát triển tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận Mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp đó là tối đa hóa lợi nhuận. Hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực hiện những chiến lược sản xuẩt, kinh doanh để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển cao góp phần tăng doanh thu, tạo điều kiện giảm thiểu chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận. Thứ tư, đầu tư phát triển góp phần đồi mới công nghệ, trình độ khoa học kĩ thuật trong sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Với sự bùng nổ về khoa học kĩ thuật như hiện nay, doanh nghiệp nào sở hữu trình độ khoa học công nghệ cao hơn thì doanh nghiệp đó chiếm được ưu thế trên thị trường.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng đổi mới khoa học công nghệ, bổ sung máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường, nâng cao năng suất, đổi mới sản phẩm cả về chủng loại, mẫu mã và chất lượng. Thứ năm, đầu tư phát triển góp phần nâng cao chất lượng nhân lực Với cùng một điều kiện sản xuất như nhau, lao động có trình độ cao sẽ tạo được nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Để hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp cần có đội ngũ lao động có trình độ cao. Đầu tư vào lao động gồm những hoạt động như đào tạo cán bộ quản lý, nâng cao tay nghề, trình độ kĩ thuật của mỗi lao động.
Khi doanh nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất mới, công nghệ hiện đại đòi hỏi đội ngũ nhân lực cũng phải có trình độ tương ứng thì mới có thể vận hành được thiết bị, đạt hiệu quả sản xuất. Do đó, đầu tư phát triển góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho bản thân doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được quyền tự chủ về tài chính, tự do huy động vốn cho doanh nghiệp bằng nhiều nguồn khác nhau, bằng các phương thức đa dạng và phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp. Về cơ bản, nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bắt nguồn từ hai nguồn chính là nguồn vốn chủ sở hữu và vốn nợ.1 Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc về chủ sở hữu của doanh nghiệp, được hình thành từ phần tích lũy từ nội bộ doanh nghiệp hay do doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu tài sản để hình thành nguồn vốn bằng tiền tài trợ cho các hoạt động chính của công ty.
Nguồn vốn này có ưu điểm là độc lập, chủ động, không phụ thuộc vào chủ nợ, giảm thiểu các rủi ro về hoạt động tín dụng. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể chia thành 4 hình thức bao gồm: Vốn góp ban đầu, nguồn vốn từ lợi nhuận không chia, nguồn vốn từ phần khấu hao hàng năm, và nguồn vốn huy động từ các công cụ chứng khoán. Nguồn vốn góp ban đầu Khi thành lập, các doanh nghiệp cần có một lượng vốn ban đầu nhất định. Đó là cơ sở pháp lý cung cấp cơ sở vật chất ban đầu để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Nguồn vốn góp ban đầu do các cổ đông- chủ sở hữu góp. Tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp được quyết định bởi hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó. Đối với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp chủ sở hữu phải có số vốn cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trong thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệp bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi một cổ đông đóng góp là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau do đó, cách thức huy động vốn của các công ty này cũng khác nhau. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài trợ bằng lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm đước chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Khi công ty để lại lợi nhuận, tức là cổ đông không được nhận cổ tức, bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ.
Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút. Nguồn vốn từ phần khấu hao hàng năm Tài sản hữu hình của doanh nghiệp được thể hiện bởi máy móc, thiết bị, nhà xưởng,. Những tài sản này đều có tuổi thọ của nó và hoạt động theo một chu kì riêng.
Mỗi loại tài sản có một thời gian sử dụng nhất định do nó chịu sự ảnh hưởng của hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của các tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Giá trị của những tài sản hữu hình này không hề nhỏ, nên doanh nghiệp không thể một lúc thay thế toàn bộ những tài sản đó. Chính vì vậy, trong mỗi chu kì hoạt động của mình, mỗi doanh nghiệp đều tính khấu hao tài sản cố định để chuẩn bị cho sự thay thế khi các tài sản đó không đảm bảo trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn vốn huy động từ các công cụ chứng khoán Nguồn vốn này được hình thành từ việc phát hành cổ phiếu ra công chúng của các doanh nghiệp cổ phần.
Cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tài trợ chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp. Cổ phiếu được chia làm hai loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu tiên. Sau khi phát hành, phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ đông. Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường.
Công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúng được gọi là cổ phiếu ngân quỹ.