CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm, nội dung của cơ chế tự chủ tài chính 1. Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính. Để hiểu rõ cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp, trước hết chúng ta cần làm rõ các khái niệm: cơ chế, tự chủ, tự chủ tài chính.
Thuật ngữ “cơ chế” là sự chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng Pháp và theo từ điển Le Petit Larousse, có được giải nghĩa là “cách thức hoạt động của một tập các yếu tố phụ thuộc vào nhau” [10]. Theo từ điển tiếng Việt giải nghĩa “có chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thể hiện” [13]. Như vậy, cơ chế là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tại và phát triển. Theo từ điển tiếng Việtgiải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối [14].
Như vậy, tự chủ là các chủ thể có quyền tự quyết, hành động trong khuôn khổ pháp luật, có tính chủ động và năng động trong việc điều hành các hoạt động của mình. Từ phân tích trên ta có thể hiểu: Cơ chế tự chủ là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị. Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khổ pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị. 9 Cùng với việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị, cơ quan cấp trên cũng yêu cầu đơn vị được trao quyền tự chủ phải chịu trách nhiệm về quyền quyết định của mình.
Đơn vị phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được trao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của đơn vị mình, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị mình. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm gắn liền với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị và đảm bảo hoạt động đó luôn đúng theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, cơ chế tự chủ tài chính được thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 43), quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các đơn vị tự chủ. Trong đó đơn vị tự chủ được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo lập và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình.
Từ các phân tích trên có thể hiểu: Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế mà theo đó các đơn vị thuộc nhà nước được trao quyền chủ động trong việc quản lý, sử dụng kinh phí được giao với mục đích tiết kiệm kinh phí, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước những vẫn đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý là một chủ trương mới, liên quan tới nhiều vấn đề khá phức tạp. Vì vậy cùng với các chủ trương đổi mới hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính quốc gia, nâng cao hiệu lực hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, Việt Nam đã xây dựng các chủ trương và tạo dựng các cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Số tiền mang lại từ việc tiết kiệm các khoản chi thường xuyên của các tổ chức thụ hưởng ngân sách 10 nhà nước được chuyển chi cho các mục đích khác theo qui định của Luật Ngân sách nhà nước. Chính phủ quy định việc khám chi và khuyến khích vật chất trong các trường hợp tiết kiệm kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN). Đặc điểm cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện Bệnh viện là cơ quan có nhiệm vụ khám và điều trị cho nhân dân, phục vụ lợi ích công cộng, NSNN phải đảm bảo 100% kinh phí để duy trì sự tồn tại và hoạt động của các bệnh viện. Do vậy, cơ chế tự chủ đối với các bệnh viện có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, đơn vị được giao quyền hạn tự chủ được chủ động sử dụng kinh phí được giao tự chủ.
Kinh phí thường xuyên đã được Nhà nước giao cho đơn vị, đơn vị có quyền chủ động phân bổ, tìm mọi biện pháp tiết kiệm kinh phí. Thứ hai, phát huy quyền làm chủ của người lao động theo quy định mỗi cơ quan đơn vị. Tại đây, người lao động trong cơ quan được tự do thảo luận, đóng góp ý kiến về việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan; được công khai về dự toán chi NSNN trong năm và quyết toán NSNN năm trước liền kề của đơn vị mình; được bàn bạc và thông qua các tiêu chuẩn, định mức trong cơ quan, các chế độ chi tiêu sẽ được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, làm căn cứ để thực hiện các nhiệm vụ chi sau này. Thứ ba, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng hơn, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà.
Kết thúc năm ngân sách, đối với các khoản chi chưa sử dụng hết, đơn vị lập tờ trình đề nghị chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục sử dụng. Việc làm này giúp giảm bớt thủ tục hành chính (thay vì nộp lại vào NSNN, năm sau lại cấp phát lại, đơn vị được tiếp tục để lại kinh phí tại tài khoản của đơn vị mình, chuyển nguồn ngân sách năm sau). Từ đó, giúp cho công tác lập dự toán NSNN năm sau, báo cáo quyết toán NSNN năm trước được đơn giản gọn nhẹ, cơ chế quản lý tài chính thông thoáng, nhanh gọn hơn. 11 Thứ tư, quản lý tài chính đơn vị đều được công khai minh bạch thông qua việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ trong cơ quan.
Theo quy định, các cơ quan nhà nước nói chung và các bệnh viện nói riêng đều phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị mình trên cơ sở các tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi hiện hành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn trong đơn vị được biết. Trên cơ sở các định mức chi, chế độ chi đã được quy định cụ thể, rõ ràng trong Quy chế chi tiêu nội bộ, việc chi tiêu kinh phí trong cơ quan nói riêng và việc quản lý tài chính tại đơn vị nói chung sẽ đảm bảo được tính công khai, minh bạch. Thứ năm, kinh phí trong năm sử dụng không hết được phép chuyển năm sau để chi tiêu tiếp. Trước khi cơ chế tự chủ ra đời, kết thúc năm ngân sách, mọi khoản kinh phí của đơn vị chưa sử dụng hết đều phải nộp lại ngân sách, nhiệm vụ nào cần thiết phải tiếp tục thực hiện sẽ đươc cấp kinh phí vào năm sau.
Sau khi các đơn vị được giao thực hiện cơ chế tự chủ, đối với các nhiệm vụ đang thực hiện dở dang hoặc chưa hoàn thiện, đơn vị được quyền lập tờ trình đề nghị chuyển nguồn kinh phí trong năm chưa sử dụng hết sang năm sau để tiếp tục chi và thực hiện nhiệm vụ đã đề ra mà không cần nộp trả lại ngân sách. Thứ sáu, hàng năm đều có tăng thu nhập cho người lao động. Kết thúc năm ngân sách, sau khi hoàn thành các nhiệm vụ được giao, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn dự toán được về kinh phí thực hiện chế độ tự chủ thì phần chênh lệch này được xác định là kinh phí quản lý tiết kiệm được, được sử dụng để chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động trong đơn vị, chi khen thưởng và các hoạt động phúc lợi tập thể của cơ quan; trích lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập. Thứ bảy, hiệu quả công việc và kinh tế cao hơn.
Với việc sử dụng kinh phí quản lý tiết kiệm được để chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, chi khen thưởng và các hoạt động phúc lợi tập thể trong đơn vị sẽ tạo động lực thúc đẩy người lao động trong cơ quan đơn vị phấn đấu hoàn thành công 12 việc được giao với chất lượng cao hơn, thúc đẩy hiệu quả công việc trong toàn đơn vị tăng cao. Đồng thời, với mức chi đã được quy định cụ thể trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị cũng là căn cứ giúp chi tiêu tiết kiệm hơn, việc sử dụng NSNN cũng đạt hiệu quả hơn. Nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh viện Từ những đặc điểm của cơ chế tự chủ nói trên, việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các bệnh việnphải đảm bảo các nguyên tắc sau: Thứ nhất, quyền tự chủ phải đảm bảo đi kèm với hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc thực hiên cơ chế tự chủ tài chính đồng nghĩa với đơn vị được chủ động sử dụng số kinh phí quản lý được giao tự chủ.
Đơn vị được quyền quyết định các mức chi bằng hoặc thấp hơn so với tiêu chuẩn, định mức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ động sắp xếp thực hiện các nhiệm vụ, chủ động sử dụng kinh phí được giao tự chủ với mục tiêu tiết kiệm kinh phí ngày càng nhiều nhưng vẫn phải đảm bảo được tính hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ. Có như vậy mới phát huy được vai trò của việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong đơn vị. Thứ hai, không tăng kinh phí quản lý được giao. Mục tiêu của cơ chế tự chủ là phát huy quyền làm chủ của các bệnh viện, trao quyền cho các đơn vị trong sử dụng kinh phí được giao, hướng đến mục tiêu tiết kiệm kinh phí, giảm gánh nặng cho NSNN.
Không tăng mức kinh phí được giao, chỉ trừ một số trường hợp cần thiết điều chỉnh theo quy định của pháp luật.