Chương 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng và hoạt động của chuỗi cung ứng Chương 2: Thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty Công ty cổ phần Tecomen. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗi cung ứng tại công ty cổ phần Tecomen. Luan van 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Chuỗi cung ứng Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” và “quản lý chuỗi cung ứng” xuất hiện cuối những năm 80 và trở nên phổ biến trong những năm 90. Trước đó, các công ty sử dụng thuật ngữ như „hậu cần” (logistics) và “quản lý các hoạt động” (operations management).
Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả trích lược một số định nghĩa để bổ sung cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, bao gồm: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” – “Fundaments of Logistics Management” (Lambert, Stock & Elleam 1998, tr. “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” – (Ganesham, Ran & Harrison, 1995, tr. Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp mà còn liên quan đến nhà vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ, và khách hàng (Nguyễn Kim Anh 2006, tr. Nhìn chung, các khái nhiệm trên đều quan niệm rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty ở các giai đoạn từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến chế biến và cung cấp sản phẩm tới người tiêu dung. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó. Tuy có đôi chút khác nhau về các định nghĩa, các khái niệm đều khá thống nhất về nội dung và những nét đặc trưng của chuỗi cung ứng: Luan van 8 - Chuỗi cung ứng phản ánh sự dịch chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng - Chuỗi cung ứng bao gồm các thành viên trực tiếp như các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, khách hàng và các thành viên gián tiếp cung cấp các dịch vụ hỗ trợ như doanh nghiệp vận tải, các nhà môi giới, các nhà tư vấn.
- Khách hàng là thành tố quyết định cấu trúc của chuỗi cung ứng bởi lẽ mục đích then chốt của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Các hoạt động của chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ.2 Quản trị chuỗi cung ứng Trên cơ sở khái niệm chuỗi cung ứng, có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản trị chuỗi cung ứng: Quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung ứng (Mentzer và cộng sự 2001, tr. Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợi các công cụ từ lập kế hoạch và điều khiển các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hóa thành sản phẩm và vận chuyển sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng (Joe D. Wisner, Keah- Choon Tan, G.
Keong Leong 2009, tr. Nội dung chính của các định nghĩa này là ý tưởng phối hợp hoặc tích hợp hàng hóa và các hoạt động dịch vụ liên quan vào các thành phần của chuỗi cung ứng để cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng. Chính vì vậy, để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các công ty phải cùng làm việc với nhau, chia sẻ thông tin như dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi năng lực, chiến lược marketing mới, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, công nghệ Luan van 9 mới, kế hoạch mua hàng, ngày giao hàng và tất cả những thông tin khác ảnh hưởng đến hoạt động mua hàng, sản xuất, kế hoạch phân phối.2 Thành phần và cấu trúc của một chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp 1.1 Thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng Mục đích then chốt của bất kỳ chuỗi cung ứng nào là nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trong tiến trình tạo ra lợi nhuận cho chính doanh nghiệp. Các hoạt động chuỗi cung ứng bắt đầu với đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ.
Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm hoặc cung cấp dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất rồi đến nhà phân phối và đến nhà bán lẻ đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng.1: Hình các thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008, tr. 36 Điều quan trọng là chúng ta phải mường tượng dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này. Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối. Vì Luan van 10 vậy, đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới.
Đây chính là lý do mà người ta thường xem chuỗi cung cấp như là mạng lưới hậu cần. Có 5 lĩnh vực mà các công ty có thể quyết định nhằm xác định năng lực của chuỗi cung ứng: sản xuất, tồn kho, địa điểm, vận tải và thông tin. Các lĩnh vực này là tác nhân thúc đẩy hiệu quả chuỗi cung ứng của công ty. Mỗi thành phần này thực hiện những chức năng khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ.1 Tồn kho Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm do nhà sản xuất, nhà phân phối và người bán lẻ tồn trữ dàn trải trong suốt chuỗi cung ứng.
Kiểm soát tồn kho hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí, gia tăng sự hiệu quả trong việc sử dụng vốn. Các nhà quản lý phải quyết định phải tồn trữ ở đâu nhằm cân đối giữa tính đáp ứng và tính hiệu quả. Tồn trữ số lượng hàng tồn kho lớn cho phép công ty đáp ứng nhanh chóng những biến động về nhu cầu khách hàng. Có nhiều mô hình để kiểm soát tồn kho như mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ), mô hình lượng đặt hàng theo sản xuất (POQ), mô hình lượng đặt hàng để lại (BOQ), mô hình khấu từ theo số lượng (QD)…Việc xuất hiện và tồn trữ hàng tồn kho tạo ra một chi phí đáng kể và để đạt hiệu quả cao thì phí tồn kho nên thấp nhất có thể được.2 Sản xuất Sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành đầu ra.
Mục đích của quá trình chuyển hoá này là tạo giá trị gia tăng để cung cấp cho khách hàng. Đầu vào của quá trình chuyển đổi bao gồm nguồn nhân lực, vốn, kĩ thuật, nguyên vật liệu, đất, năng lượng, thông tin. Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phân tích đặc điểm sản phẩm và khả năng sản xuất của doanh nghiệp. Nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan (Vốn, hiểu biết chuyên môn,…), khách quan (tình hình và xu hướng kinh tế nội địa và thế giới, nhu cầu của khác hàng tương lai, đối thủ cạnh tranh của mình,.) Quyết định lựa chọn quá trình sản xuất không chỉ căn cứ vào nhu cầu sản phẩm mà còn căn cứ vào khả năng sản xuất của chính doanh nghiệp.
Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá là chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm cho chất Luan van 11 lượng tương tự nhau. Nếu khả năng của doanh nghiệp có thể tự sản xuất được và chi phí tự sản xuất nhỏ hơn so với gia công ngoài với cùng loại sản phẩm có chất lượng như nhau thì doanh nghiệp nên tiến hành sản xuất. Ngược lại so với chi phí cao hơn thì doanh nghiệp sẽ thuê gia công ngoài. Đây là một xu hướng mới được rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng để dựa vào lợi thế sản xuất theo quy mô để giảm giá thành các chi tiết sản phẩm.
Không phải tất cả các chi tiết của một sản phẩm đều được sản xuất. Một vài chi tiết có thể được đặt mua từ các nhà cung cấp. Quyết định liên quan đến chi tiết nào sẽ được mua và chi tiết nào được sản xuất được gọi là quyết định lựa chọn quá trình sản xuất.3 Địa điểm Địa điểm liên quan đến vị trí, hoạt động được thực hiện ở các bộ phận của chuỗi cung ứng. Sự lựa chọn ở đây chính là tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả.
Các quyết định sẽ tập trung vào hoạt động ở một số khu vực để đạt được hiệu quả và tính kinh tế nhờ quy mô. Các quyết định sẽ giảm tập trung vào các hoạt động ở các khu vực gần khách hàng và nhà cung cấp để hoạt động đáp ứng kịp thời hơn. Quyết định về địa điểm được xem như là một quyết định chiến lược vì ảnh hưởng lớn đến tài chính trong kế hoạch dài hạn. Khi quyết định về địa điểm, nhà quản lý cần xem xét hàng loạt các yếu tố liên quan đến như chi phí phòng ban, lao động, kỹ năng cần có trong sản xuất, điều kiện cơ sở hạ tầng, thuế.
và gần với nhà cung cấp hay người tiêu dùng. Mục tiêu của việc chon địa điểm là phải đạt được hiệu quả cao nhất trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và các kênh phân phối sản phẩm. Để đạt được doanh nghiệp cần cân nhắc các quyết định sau: - Địa điểm nguồn cung: Doanh nghiệp xác định được vị trí nguồn cung cả về nguyên vật liệu và nhân lực từ đó xác định nguồn cung dài hạn hợp lý nhất. - Địa điểm sản xuất và lưu kho: Doanh nghiệp xác định quy mô sản xuất từ đó định vị sản xuất và lưu kho hiệu quả nhất.
- Định vị phân phối: Doanh nghiệp xác định thị trường mục tiêu, quyết định con đường từ sản phẩm đến khách hàng.