Chương 1 Tổng quan về cơ chế và chính sách tài chính hỗ trợ phát triển DNNVV 1.1 DNNVV trong nền kinh tế.1 Khái niệm DNNVV. DN là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất , cung ứng sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ trên thị trường. DN, trước hết phải là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường. Tuỳ theo mục đích thành lập DN mà mỗi DN có mục đích hoạt động khác nhau, hầu hết mục đích hoạt động của các DN đều là lợi nhuận, trừ một số ít các DN hoạt động trong lĩnh vực công ích.
Thông thường, có ba điều kiện để công nhận là một DN là: - Có tư cách pháp nhân; - Có vốn pháp định để kinh doanh; - Có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, chịu trách nhiệm độc lập về mọi hoạt động kinh doanh của mình. Đối với một quốc gia, nền kinh tế do tổng thể các DN (bao gồm DN lớn, DNNVV) tạo thành, sự phát triển của DN và việc huy động các nguồn lực bên trong của nền kinh tế giữ một vai trò quyết định trong tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước, đảm bảo tính ổn định và bền vững đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động có hiệu quả là điều kiện tốt để trở thành DN lớn trong tương lai. Thực tế, đại đa số các DN lớn phát triển, đi lên từ DNNVV. Sự tồn tại đan xen và kết hợp giữa các loại quy mô DN làm 5 cho nền kinh tế đa dạng, phong phú, linh hoạt, năng động hơn, phù hợp, thích ứng với những biến động của thị trường, đảm bảo cho tính hiệu quả chung cho toàn bộ nền kinh tế.
Để có những giải pháp nhằm hỗ trợ khu vực hoạt động hiệu quả, phát triển thì trước hết cần phải có một định nghĩa chính xác, rõ ràng về DNNVV. Tháng 5/2003, Liên minh Châu Âu đã đưa ra một định nghĩa toàn diện về DNNVV. Theo định nghĩa này, lao động và giá trị lớn nhất về mặt giá trị tài chính là căn cứ xác định nhóm DN, cụ thể: nhóm DN nhỏ, siêu nhỏ và vừa có dưới 250 lao động, thu nhập hàng năm không vượt quá 50 triệu EURO, và/hoặc tổng giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán nhỏ hơn 43 triệu EURO; DN nhỏ có dưới 50 nhân công, doanh thu hàng năm và/hoặc giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán không vượt quá 10 triệu EURO; DN siêu nhỏ có dưới 10 nhân công, doanh thu hàng năm và/ hoặc giá trị tài sản trên bảng cân đối kế toán không vượt quá 2 triệu EURO. Định nghĩa chính thức về của Việt Nam theo Nghị định số 90/2001/ND-CP (23/11/2001) như sau: Quy định DNNVV là “những đơn vị sản xuất, kinh doanh đăng ký theo luật hiện hành, với mức vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng và/hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Đồng thời Nghị định cũng nêu rõ “căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của các ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”. Hiện nay trên thế giới không có định nghĩa chung về DNNVV. Hầu hết tất cả các nước đều đưa ra những định nghĩa riêng về DNNVV dựa trên tình hình kinh tế xã hội của nước mình.1 dưới đây sẽ đưa ra định nghĩa về tại một số nước trên thế giới.1: Các định nghĩa về DNNVV ở một vài nước Châu á. Stt Quốc gia Định nghĩa về DNNVV Thướ 1 Indonesia Không quá 100 lao động Lao đ Không quá 300 lao động hoặc giá trị tài sản là 10 triệu yên; 2 Nhật Bán buôn - không quá 50 lao động, 30 triệu yên giá trị tài sản; Lao đ Bán lẻ – không quá 50 lao động, 10 triệu yên giá trị tài sản.
3 Hàn Quốc Chế tạo – không quá 300 lao động; Dịch vụ – không quá 30 lao động Lao đ 4 Malaysia Biến động, doanh thu không quá 25 triệu ringgit và 150 lao động Cổ đô 5 Trung Quốc Thay đổi theo ngành không quá 100 lao động Lao đ 6 Phillipin Không quá 200 lao động, 40 triệu Peso Tài sả Chế tạo – tài sản cố định không quá 12 triệu đôla Singapore 7 Singapore Tài sả DN dịch vụ không quá 100 nhân công Chế tạo – vốn không quá 40 triệu đài tệ, tổng tài sản không quá 120 triệu đài 8 Đài Loan tệ. Trong kinh doanh vận tải và các dịch vụ khác, doanh thu không quá 40 Vốn, triệu đài tệ. Không quá 200 lao động đối với ngành càn nhiều lao động 9 Thái Lan Lao đ Không quá 100 triệu Bạt đối với ngành đòi hỏi nhiều vốn Nguồn: [14,53] 7 1.2 Phân loại DNNVV. Có nhiều loại hình DN cùng tồn tại, phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Để thuận lợi cho việc quản lý, hỗ trợ DN phát triển, người ta thường dựa theo những tiêu thức khác nhau khi phân loại DN. Phân loại DN theo quyền sở hữu: Căn cứ vào quyền sở hữu tài sản của DN, người ta chia thành các loại hình DN sau: - DN sở hữu toàn dân (sở hữu NN) về tư liệu sản xuất; - DN sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất; - DN sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; - DN liên doanh (nhiều chủ sở hữu); Theo số người sở hữu có: - DN một chủ sở hữu; - DN có nhiều chủ sở hữu Phân loại DN theo trách nhiệm pháp lý: Căn cứ theo trách nhiệm pháp lý, người ta chia thành các loại hình DN sau: - DN có trách nhiệm pháp lý vô hạn: DN Tư nhân (Cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN), DN chung vốn… - DN có trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Công ty TNHH, công ty cổ phần (mỗi thành viên chịu trách nhiệm về khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn góp vào công ty) - DN có trách nhiệm pháp lý hỗn hợp: Công ty hợp danh (thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty) 8 Phân loại DN theo lĩnh vực hoạt động Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động, người ta chia DN thành các loại hình DN sau: - DN sản xuất những sản phẩm công nghiệp; - DN vận tải; - DN thương mại; - DN xây dựng; - DN kinh doanh dịch vụ; - DN hỗn hợp: sản xuất, kinh doanh thương mại và dịch vụ; Phân loại DN theo quy mô Căn cứ vào quy mô DN (chủ yếu dựa vào vốn và lao động), người ta chia thành 3 loại hình DN như: - DN lớn; - DN vừa; - DN nhỏ. DN lớn thường có số lượng ít và là các DN có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Một số DN lớn ở Việt Nam như: Tổng công ty Than Việt Nam; Tổng công ty Bưu chính Viễn thông; Tổng công ty Thép; Tổng công ty điện lực Việt Nam… Việc quy định tiêu thức thế nào là DNNVV, thế nào là DN lớn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước trong giai đoạn khác nhau. Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, tiêu chí thường được dùng để xác định DNNVV bao gồm ba yếu tố: Vốn, lao động và doanh thu. Việc sử dụng một, hai, hay cả ba yếu tố còn phụ thuộc vào tình hình phát triển, điều kiện và biện pháp hỗ trợ phát triển DN của từng nước cụ thể 9 1.3 Đặc điểm cơ bản của DNNVV. Về cơ bản khu vực DNNVV có một số điểm mạnh sau đây: - Khả năng thoả mãn nhu cầu có giới hạn của thị trường thị trường: DNNVV có thể sẵn sàng phục vụ những khu vực thị trường với mức tiêu thụ thấp, cách trở về địa lý, bù đắp những khoảng trống của thị trường; - Dễ dàng khởi động, năng động, nhạy bén nhanh chóng thích ứng với những thay đổi của thị trường: DNNVV có thể tiến hành hoạt động sản xuất và kinh doanh với một số vốn ít ỏi, một mặt bằng nhỏ hẹp.
Họ có thể sử dụng nguồn vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân. Do quy mô nhỏ, tổ chức quản lý gọn nhẹ hơn DN lớn nên tính linh hoạt, mềm dẻo cao hơn, dễ dàng thay đổi thích ứng với những biến động của thị trường; - Dễ dàng áp dụng, đổi mới thiết bị công nghệ: Do vốn đầu tư vào tài sản cố định không lớn, thường đầu tư vào những máy móc, thiết bị công nghệ có giá trị thấp nên dễ dàng thay đổi thiết bị hơn các DN lớn; - Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí quản lí DN: Do cơ cấu tổ chức gọn nhẹ nên việc điều hành của các khâu trung gian đơn giản hơn các DNNVV lớn, và chi phí quản lí DN đỡ tốn kém hơn. DNNVV nhanh chóng hơn trong việc đáp ứng nhu cầu thị trường; - Dễ phát huy bản chất hợp tác: Các DNNVV đơn giản hơn trong việc tự hoàn thiện bản thân và tiến hành hợp tác với nhau sản xuất một hoặc một vài công đoạn trong quá trình sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh; - Thu hút nhiều lao động, lao động có trình độ thấp hoạt động hiệu quả với chi phí thấp: 10 Do số lượng DNNVV chiếm phần lớn trong tổng số các DN tại Việt Nam nên khu vực này thu hút rất nhiều lao động, hơn nữa cũng do quy mô hoạt động nhỏ, trình độ khoa học công nghệ nhìn chung không cao,… nên cũng thu hút nhiều lao động có trình độ thấp.