lời mở đầu và kết thúc, nội dung của khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng cụ thể: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng về chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Phan Đăng Lƣu – Phòng Giao dịch Hiệp Bình - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu – Chi nhánh Phan Đăng Lƣu – Phòng Giao dịch Hiệp Bình 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại và tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm ngân hàng thƣơng mại và tín dụng ngân hàng Theo luật các tổ chức tín dụng 2017 số 17/2017/QH14 của nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thời thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong khoản thời gian vay vốn. Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng là ngân hàng, doanh nghiệp và cá nhân. Đối tƣợng đƣợc sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền.
Đây là điểm khác biệt giữa tín dụng ngân hàng với các loại hình tín dụng khác. Vai trò của tín dụng ngân hàng Đối với Ngân hàng thƣơng mại Đối với hầu hết các ngân hàng khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng “ tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Đồng thời, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có xu hƣớng tập trung vào các khoản cho vay. Tình trạng khó khăn của một ngân hàng thƣờng phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi, bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau: quản lý yếu kém, cho vay không tuân thủ nguyên tắc tín dụng, chính sách cho vay không hợp lý và tình trạng suy thoái ngoài dự kiến của 8 nền kinh tế.
Chính vì thế mà thanh tra ngân hàng thƣờng xuyên kiểm tra các danh ” mục tính dụng của các ngân hàng. Đối với các khách hàng cá nhân và đối với nền kinh tế Thông qua hoạt động cho vay, NHTM đã giúp cho quá trình sản suất kinh “ doanh của các doanh nghiệp đƣợc liên tục và ổn định, góp phần vào sự ổn định của nền kinh tế. Không chỉ có thế hoạt động cho vay còn nâng cao mức sống các tầng lớp dân cƣ và cả cộng đồng. Chính vì thế mà hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trƣởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Hơn nữa, thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị trƣờng sẽ có thêm thông tin về chất lƣợng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho họ có khả năng bổ sung thêm các khoản tín dụng mới từ các nguồn khác nhau ” với chi phí thấp hơn. Phân loại các khoản tín dụng Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau tƣơng ứng với sự “ đa dạng trong mục đích vay vốn của khách hàng, từ việc mua ô tô và sắm sửa các phƣơng tiện sinh hoạt, chuẩn bị cho các kỳ nghỉ, tài trợ cho quá trình học tập đến việc xây nhà ở và các toà nhà văn phòng. Các danh mục cho vay có thể đƣợc sắp ” xếp rất linh hoạt tuỳ theo các hình thức quản lý khác nhau của các NHTM. Phân loại theo thời hạn khoản vay Theo hình thức này ngân hàng có thể quản lý tốt hơn về mặt thởi gian của các “ khoản vay nhƣ là thời hạn giải ngân, thời hạn thu nợ… Qua đó các ngân hàng có thể quản lý tốt khả năng thanh khoản của chính mình.
” Khoản vay ngắn hạn Các khoản cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở “ xuống, chủ yếu nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lƣu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nƣớc, doanh nghiệp, hộ sản xuất, cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc cho vay gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không có đảm bảo, dƣới hình thức chiết khấu hoặc thấu chi. ” 9 Khoản vay trung và dài hạn Các khoản cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm thì đƣợc xếp vào danh mục “ khoản vay trung hạn và từ 5 năm trở nên là các khoản cho vay dài hạn. Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản cố định, các dự án đầu tƣ hay đƣợc sử dụng để mua sắm các loại tài sản của khách hàng trong kinh doanh hoặc thảo mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng… Các khoản này thƣờng chiếm một tỷ ” trọng rất cao trong tổng dƣ nợ cho vay của các NHTM, chiếm phần lớn lợi tức mà hoạt động cho vay mang lại.
Phân loại theo phương thức cho vay1 Cho vay thấu chi Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép ngƣời vay đƣợc chi “ trội (vƣợt) trên số dƣ tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này đƣợc gọi là hạn mức thấu chi.” Cho vay từng lần Cho vay từng lần là hình thức cho vay mà mỗi lần vay khách hàng phải làm “ đơn và trình ngân hàng phƣơng án sử dụng vốn vay. Đây là hình thức tƣơng đối phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thƣờng xuyên, không có điều kiện để đƣợc cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thƣơng mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở ” rộng sản xuất kinh doanh mới vay ngân hàng, tức là nguồn vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng “ hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dƣ tối đa tại thời điểm tính. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mƣợn thƣờng xuyên, vốn vay tham gia thƣờng xuyên vào quá trình sản xuất ” kinh doanh.
Cho vay trả góp 1 Nguyễn Thị Mùi (2017), Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính. 10 Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách “ hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Ngân hàng thƣờng cho vay trả góp đối với ngƣời tiêu dùng thông qua hạn mức nhất định. Đây là loại hình cho vay có rủi ro cao do khách hàng thƣờng thế chấp bằng hàng hoá mua trả góp, vì vậy nên lãi suất cho vay trả góp thƣờng là lãi suất cao nhất trong khung lãi ” suất cho vay của ngân hàng.
Cho vay gián tiếp Là khoản cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc “ chứng từ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán nhƣ là chiết khấu thƣơng ” mại, bao thanh toán. Cho vay thông qua việc phát hành th tín dụng Ngân hàng nơi cho vay chấp thuận cho khách hàng sử dụng số vốn vay trong “ pham vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của Ngân hàng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, ngân hàng nơi cho vay và khách hàng ” phải tuân thủ quy định của chính phủ và NHNN Việt Nam. Phân loại theo hình thức đảm bảo2 Bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng lâu dài của khách hàng - Cho vay cầm cố Để tuân thủ cả các quy định của pháp luật và chính sách tín dụng tƣơng ứng của mình, các ngân hàng cho khách hàng vay theo thỏa thuận, trong suốt thời hạn cam kết, khách hàng sẽ trao quyền kiểm soát tài sản bảo đảm cho ngân hàng.
Danh sách và các điều kiện cần thiết của tài sản cầm cố tùy thuộc vào quyết định của ngân hàng, chỉ những tài sản có thể đƣợc quản lý một cách chắc chắn mới đƣợc coi là chấp nhận đƣợc. Hoạt động của khách hàng không bị ảnh hƣởng, với các tài sản cầm cố đƣợc chấp nhận bao gồm giấy tờ có giá, tiền giấy, kim loại quý và ngoại tệ mạnh… - Cho vay thế chấp 2 Nguyễn Đăng Dờn (2014), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM 11 Khi vay loại hình này, ngƣời đi vay phải cung cấp cho ngân hàng các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản cầm cố. Các giấy tờ này phải đƣợc nộp cho ngân hàng để bảo quản an toàn trong thời hạn đƣợc chỉ định. Thế chấp bằng tài sản thì những tài sản mang thế chấp thƣờng là bất động sản “ nhƣ: nhà cửa, quyền sử dụng đất… hoặc là những động sản mà việc nắm giữ nó không thuận tiện nhƣ ô tô, xe máy… Việc thế chấp bằng tài sản cho phép ngƣời nhận tài trợ tiếp tục đƣợc sử dụng tài sản trong thời gian vay, tuy nhiên quá trình sử dụng có thể làm biến dạng tài sản, hơn nữa khả năng kiểm soát tài sản đảm bảo của ” ngân hàng bị giới hạn.