Chương 1: Cơ s lý luận và thực tiễn hoàn thiện chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc lá Chương 2: Thực trạng hoàn thiện thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc lá Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng thuốc lá Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG THUỐC LÁ 1. Chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt Ra đời và tồn tại cùng Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và ngày càng khẳng định vai trò đối với nền kinh tế.
Theo Luật Quản lý thuế số 8/20 9/QH quy định “Thuế là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của các tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân th o quy định của các luật thuế”. Tại Việt Nam, căn cứ vào phương thức đánh thuế thì hệ thống thuế phân loại thành hai loại: thuế gián thu và thuế trực thu. Thuế gián thu là loại thuế đánh trên hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, là loại thuế mà đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế khác nhau. Thuế gián thu bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên.
Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập và tài sản của các chủ thể trong nền kinh tế, là loại thuế mà đối tượng chịu thuế cũng là đối tượng nộp thuế. Thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế trước bạ, thuế môn bài. Thuế TTĐB là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu dùng đặc biệt, Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt, Trung Quốc gọi là thuế tiêu thụ, một số nước Đông Nam Á gọi là thuế hàng hóa tội lỗi (sin tax). Ở Việt Nam, tiền thân của thuế TTĐB hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 9.
Luật thuế TTĐB Việt Nam được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII và lần đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/1990, thay thế thuế hàng hóa trước đây. Theo giáo trình nghiệp vụ thuế của PGS.TS Nguyễn Văn Hiệu, PGS.TS Nguyễn Thị Liên thì “thuế TTĐB là sắc thuế đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục nhà nước quy định” (Học viện Tài chính, 2008). Theo giáo trình Thuế và hệ thống thuế Việt Nam của GS. Bùi Xuân Lưu, TS.
Nguyễn Hữu Khải, Th. Nguyễn Xuân Nữ thì “thuế TTĐB là một loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ chưa thật cần thiết đối với nhu cầu thiết yếu 7 của nhân dân, hoặc cần tiết kiệm, hướng dẫn tiêu dùng một cách hợp lý” (Đại học Ngoại Thương, 200 ). Qua các khái niệm trên có thể thấy thuế TTĐB là loại thuế gián thu, áp dụng đối với một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục nhà nước quy định nhằm mục tiêu điều tiết thu nhập và sản xuất, tiêu dùng. Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt Thứ nhất, phạm vi điều tiết của thuế TTĐB không rộng và thay đổi tùy th o điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thuế TTĐB chỉ tập trung thu vào một số loại hàng hóa, dịch vụ do đây là sắc thuế tiêu dùng được áp dụng để điều tiết thu nhập, điều chỉnh hành vi tiêu dùng của người sử dụng. Do vậy, đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ hẹp hơn so với những sắc thuế gián thu khác như thuế TTĐB hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể về kinh tế xã hội, phong tục tập quán, chính sách tiêu dùng, yêu cầu động viên ngân sách, khả năng quản lý, giám sát mà mỗi nước trong từng thời kỳ sẽ có những quy định riêng về danh mục mặt hàng chịu thuế, mức thuế suất, phương thức tổ chức quản lý thu thuế TTĐB. Thứ hai, thuế TTĐB là một sắc thuế gián thu.
Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu b i vì thuế TTĐB được cấu thành trong giá bán hàng hóa, dịch vụ do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, dịch vụ. Người nộp thuế TTĐB là người sản xuất hàng hóa, người nhập khẩu hàng hóa chịu thuế TTĐB và người cung ứng dịch vụ chịu thuế TTĐB. Người chịu thuế TTĐB là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB. Thứ ba, thuế TTĐB thường có mức thuế suất cao hơn so với các sắc thuế gián thu khác như thuế TTĐB.
Đối tượng chịu thuế TTĐB phổ biến tại hầu hết các quốc gia bao gồm thuốc lá, rượu, bia, ô tô, xăng dầu… là những mặt hàng tiêu dùng có hại cho sức khỏe cộng đồng, cần tiêu dùng tiết kiệm, bảo vệ môi trường nên các nước thường áp dụng mức thuế suất cao để định hướng sản xuất, tiêu dùng. Ngoài ra, người tiêu dùng các đối tượng chịu thuế TTĐB như chơi gôn, du thuyền, máy bay,… có thu nhập cao nên thu thuế TTĐB với thuế suất cao sẽ điều tiết một phần thu nhập của những người tiêu dùng đối với các hàng hóa, dịch vụ này. Thứ tư, thuế TTĐB là thuế tiêu dùng một giai đoạn. Tùy th o điều kiện KT-XH của quốc gia mà việc đánh thuế TTĐB có thể thực 8 hiện một giai đoạn theo những cách khác nhau.
Ở những quốc gia rất phát triển, có trình độ kiểm soát, quản lý cao thì thuế TTĐB có thể được đánh một giai đoạn duy nhất khâu bán lẻ. Với lựa chọn này, chính phủ thu được thuế TTĐB theo giá bán cao nhất của quá trình luân chuyển. Ở những quốc gia chậm phát triển hoặc đang phát triển, thậm chí cả một số nước phát triển, việc đánh thuế TTĐB một giai đoạn thường áp dụng vào khâu sản xuất hàng hóa bán ra, khâu nhập khẩu hàng hóa và khâu cung ứng dịch vụ, với lựa chọn này, nếu thuế TTĐB t nh trên giá bán thì cơ s thuế thấp hơn khâu bán lẻ nhưng hoạt động quản lý đơn giản hơn. Thuế TTĐB thu một lần tại khâu nhập khẩu, sản xuất hay cung ứng dịch vụ.
Khác với sắc thuế gián thu khác là thuế TTĐB, người nộp thuế TTĐB là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB nộp thuế thay cho người tiêu dùng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB sản xuất trong nước, thuế TTĐB được thu trên giá xuất xư ng của hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ chịu thuế TTĐB; đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB tại khâu nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu. Như vậy, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu sẽ nộp thuế TTĐB thay cho người tiêu dùng và người tiêu dùng sẽ chịu gánh nặng thuế TTĐB thông qua giá của sản phẩm, dịch vụ. Vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt Thứ nhất, thuế TTĐB là nguồn thu quan trọng trong hệ thống thu NSNN.
Mặc dù đối tượng chịu thuế TTĐB hẹp hơn so với các sắc thuế gián thu khác tuy nhiên thuế TTĐB lại có thuế suất cao hơn, thuế TTĐB là một sắc thuế có hiệu suất cao, là nguồn thu ổn định của NSNN và góp phần làm cho nguồn thu NSNN bền vững. Một số loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế TTĐB có khối lượng tiêu thụ lớn (thuốc lá, rượu, bia), chỉ được sản xuất, nhập khẩu b i số lượng doanh nghiệp nhất định, lượng cầu ít biến động và ít có khả năng thay thế. Thứ hai, thuế TTĐB còn được coi là công cụ hữu hiệu của Nhà nước nhằm định hướng sản xuất, tiêu dùng và tái phân phối thu nhập của người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. Thuế TTĐB không đánh vào tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ mà chi đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng.
Thuế TTĐB khiến người tiêu dùng phải trả giá cao hơn nhiều so với giá sản xuất, làm giảm nhu cầu đối với các sản phẩm đánh thuế. Việc áp dụng mức thuế cao, khiến giá bán sản phẩm cao nhằm hạn chế việc sử dụng của nhiều người và hướng đánh vào đối tượng tiêu dùng phải có thu nhập khá tr lên. 9 Bên cạnh việc đánh vào các sản phẩm có hại cho sức khỏe cộng đồng như rượu, bia, thuốc lá để điều tiết hành vi tiêu dùng của toàn xã hội, thuế TTĐB còn được sử dụng để điều tiết tiêu dùng đối với những mặt hàng xa xỉ mà được sử dụng b i những người có thu nhập cao trong xã hội như đánh vào những hàng hóa chỉ được sử dụng b i những người có thu nhập cao và rất cao trong xã hội như: ô tô, tàu bay, du thuyền.; hoặc loại thuế này còn đánh vào việc sử dụng những dịch vụ không thực sự cần thiết cho cuộc sống như: vũ trường, mát-xa, karaoke, casino. Mặt khác, cũng thông qua việc thu thuế TTĐB, nhà nước còn có thể huy động một bộ phận thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và có khả năng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu, không được khuyến kh ch tiêu dùng vào ngân sách nhà nước để sử dụng cho những mục tiêu công cộng, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
Thứ ba, thuế TTĐB góp phần định hướng tiêu dùng tiết kiệm đối với nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch và khuyến khích sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường. Đối tượng chịu thuế TTĐB còn là những nguồn nguyên liệu có nguồn gốc hóa thạch như xăng hay ô tô, chúng là những mặt hàng khi sử dụng sẽ tạo ra lượng khí thải các- bon và ảnh hư ng xấu đến với môi trường, đặc biệt là môi trường không khí. Khái niệm chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt Chính sách là hệ thống những quan điểm và đường lối để đạt được những mục tiêu nhất định trong quản lý của một tổ chức hoặc trong quản lý nhà nước. Đối với từng lĩnh vực thì đều có chính sách riêng biệt như ch nh sách tài ch nh, trong đó nổi bật là chính sách thuế.
Chính sách thuế là một trong những chính sách tài chính quan trọng nhất của Nhà nước bên cạnh các chính sách phát triển kinh tế khác và có những vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế.