Luận án tiến sĩ: Ứng dụng công nghệ thông tin để thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tăng trưởng xanh tại Việt Nam thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

166
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án bắt đầu với việc tổng quan tình hình nghiên cứu về tăng trưởng xanhcông nghệ thông tin (CNTT) trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả nhấn mạnh rằng, mặc dù tăng trưởng xanh đã trở thành xu hướng toàn cầu, các nghiên cứu về việc áp dụng CNTT để thúc đẩy tăng trưởng xanh vẫn còn hạn chế. Đặc biệt, tại Việt Nam, các nghiên cứu này chưa được hệ thống hóa và chưa có nhiều kết quả nổi bật. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng cách đánh giá vai trò của CNTT trong việc thực hiện tăng trưởng xanh tại Việt Nam.

1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Các nghiên cứu quốc tế về tăng trưởng xanh đã được thực hiện từ những năm 1970, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng năng lượng 1972-1973. Các tổ chức như UNEP, OECD, và ADB đã đưa ra các khái niệm và chiến lược về tăng trưởng xanh, nhấn mạnh việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vai trò của CNTT trong tăng trưởng xanh vẫn còn ít và chưa được hệ thống hóa.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tăng trưởng xanh chủ yếu tập trung vào các chính sách và định hướng chung, chưa đi sâu vào việc áp dụng CNTT. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù CNTT được xem là một lợi thế của nền kinh tế, việc ứng dụng nó để thúc đẩy tăng trưởng xanh vẫn còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng.

II. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế

Chương này tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về tăng trưởng xanh và vai trò của CNTT trong quá trình này. Tác giả đưa ra các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện tăng trưởng xanh thông qua CNTT. Đồng thời, luận án cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế từ các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, và Đức, nơi CNTT đã được sử dụng hiệu quả để thúc đẩy tăng trưởng xanh.

2.1. Vai trò của CNTT trong tăng trưởng xanh

CNTT được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua việc tối ưu hóa sử dụng năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính, và nâng cao hiệu quả kinh tế. Các ứng dụng như IoT, BEMS, và FEMS đã được sử dụng rộng rãi để quản lý năng lượng và giảm thiểu tác động môi trường.

2.2. Kinh nghiệm quốc tế

Các quốc gia như Hàn Quốc và Nhật Bản đã triển khai các chính sách và chương trình cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua CNTT. Ví dụ, Hàn Quốc đã áp dụng các hệ thống quản lý năng lượng thông minh và các giải pháp CNTT để giảm thiểu khí thải và nâng cao hiệu quả sản xuất.

III. Thực trạng tại Việt Nam

Luận án phân tích thực trạng việc áp dụng CNTT để thúc đẩy tăng trưởng xanh tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù CNTT đã có những đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, việc ứng dụng nó để thúc đẩy tăng trưởng xanh vẫn còn nhiều hạn chế. Các vấn đề như thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ tầng CNTT chưa đồng bộ, và thiếu các chính sách hỗ trợ cụ thể là những nguyên nhân chính.

3.1. Phát triển ngành CNTT

Ngành CNTT tại Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào GDP và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT để thúc đẩy tăng trưởng xanh vẫn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

3.2. Ứng dụng CNTT trong quản lý năng lượng

Việc ứng dụng CNTT trong quản lý năng lượng tại Việt Nam vẫn còn sơ khai, chưa có nhiều giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính.

IV. Giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh

Luận án đề xuất các giải pháp cụ thể để thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua CNTT tại Việt Nam. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện chính sách, đầu tư vào hạ tầng CNTT, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, và tăng cường hợp tác quốc tế. Tác giả nhấn mạnh rằng, việc áp dụng CNTT cần được thực hiện đồng bộ và có chiến lược cụ thể để đạt được hiệu quả cao nhất.

4.1. Hoàn thiện chính sách

Cần có các chính sách cụ thể để khuyến khích việc áp dụng CNTT trong các lĩnh vực như quản lý năng lượng, giao thông, và sản xuất công nghiệp. Các chính sách này cần được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

4.2. Phát triển nguồn nhân lực

Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNTT là yếu tố then chốt để thúc đẩy tăng trưởng xanh. Cần có các chương trình đào tạo và hợp tác quốc tế để nâng cao trình độ và kỹ năng của đội ngũ nhân lực.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin Chương 3: Thực trạng thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin ở Việt Nam Chương 4: Giải pháp thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh thông qua công nghệ thông tin ở Việt Nam Kết luận 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc 1. Tăng trưởng xanh Cho tới bây giờ vẫn chưa có một định nghĩa chuẩn về tăng trưởng xanh trong các cuộc bàn luận chính sách và trong công chúng. Khái niệm này có thể có phạm vi hẹp đáp ứng một yêu cầu cụ thể như cải thiện môi trường đến sự kết hợp giữa giảm phát thải với tăng trưởng, đến một kế hoạch toàn diện nhằm cải thiện tính hiệu quả và tính bền vững về tài nguyên môi trường.

Ý tưởng về tăng trưởng xanh bắt đầu từ thập kỷ 1970 do áp lực của khủng hoảng năng lượng 1972-1973. Từ cuối năm 2008, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã phát động “Sáng kiến kinh tế xanh” với mục tiêu tăng cường phối hợp và hợp tác quốc tế ứng phó với khủng hoảng tài chính đi đôi với xử lý các vấn đề toàn cầu nhằm hướng tới phát triển bền vững của kinh tế thế giới hậu khủng hoảng. Vấn đề tăng trưởng xanh gần đây cũng được nêu đậm tại nhiều khuôn khổ hợp tác (G8, ESCAP.) và diễn đàn quốc tế (Hội nghị Bác Ngao, Tương lai Châu Á, Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF). Hội nghị Thượng đỉnh G8 (Italia, ngày 8- 10/7/2009) nhấn mạnh các biện pháp kích thích kinh tế của G8 phải ưu tiên khuyến khích tạo việc làm “xanh” và hướng tới tăng trưởng bền vững, sử dụng hiệu quả năng lượng; cam kết nỗ lực giảm hoặc dỡ bỏ các rào cản đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan trực tiếp đến ứng phó biến đổi khí hậu, v.

Tăng trưởng xanh từ chỗ là ý tưởng lồng ghép các vấn đề môi trường vào nền kinh tế, ngày nay đã trở thành mô hình tăng trưởng kinh tế mới, được nhiều nước đưa vào thực tiễn và các tổ chức quốc tế khuyến nghị, hỗ trợ thực hiện. Tăng trưởng xanh là “quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”. (UNEP) Tăng trưởng xanh là phương thức phát triển kinh tế bền vững, là một bộ phận của phát triển bền vững, không đồng nghĩa và không thay thế phát triển bền vững. Chuyển sang tăng trưởng xanh là chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế.

Theo Liên Hợp quốc (UN) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong nghiên cứu Tăng trưởng xanh, Tài nguyên và ứng phó: Tính bền vững môi trường ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương (Green Growth, Resources and Resilience: 6 Environmental Sustainability in Asia and the Pacific) (2012) đã đưa ra quan điểm tăng trưởng xanh là “phát triển kinh tế gìn giữ môi trường bền vững, ít các bon và phát triển xã hội toàn diện”. Nghiên cứu cũng trình bày tăng trưởng xanh và nền kinh tế xanh như một mô hình phát triển mới, trong đó phát triển kinh tế và bền vững môi trường củng cố lẫn nhau. Nó đòi hỏi “chiến lược tổng hợp hỗ trợ cho thay đổi về hệ thống theo cách tích hợp, bổ sung và củng cố lẫn nhau”1. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), trong Báo cáo tạm thời của Chiến lược Tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết của chúng ta cho một tương lai bền vững (2010) đã đưa ra khái niệm: “Tăng trưởng xanh là một phương thức theo đuổi tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi ngăn chặn suy thoái môi trường, mất đa dạng sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững.

Nó được xây dựng dựa trên các sáng kiến phát triển bền vững tại nhiều quốc gia và nhằm mục đích xác định các nguồn lực sạch hơn để tăng trưởng, bao gồm nắm bắt cơ hội để phát triển các ngành công nghiệp, công việc và công nghệ xanh mới, trong khi cũng quản lý những thay đổi cấu trúc liên quan đến việc chuyển đổi sang một nền kinh tế xanh hơn”. 2 Khu vực Châu Á Thái Bình Dương như một tổng thể đã sáng lập và nuôi dưỡng tăng trưởng xanh. Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc (NESCAP) đi đầu trong việc vận động nâng cao nhận thức và hỗ trợ cho tăng trưởng xanh trong và ngoài khu vực thông qua các hội nghị, nâng cao nhận thức, được ủng hộ và cam kết về các chương trình và các hoạt động thuộc chủ đề này trong khu vực. Các khái niệm về tăng trưởng xanh đã đạt được tăng trưởng đáng kể từ các sáng kiến trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

NESCAP đã định nghĩa: “Tăng trưởng xanh là chiến lược tìm kiếm sự tối đa hoá trong sản lượng kinh tế và tối thiểu hoá gánh nặng sinh thái. Cách tiếp cận mới tìm kiếm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tính bền vững môi trường bằng việc thúc đẩy những thay đổi cơ bản trong sản xuất và tiêu dùng xã hội”. Trung tâm đào tạo CNTT và Truyền thông Châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (UN-APCICT) xuất bản học phần 10 (module10) Công nghệ thông tin và truyền thông, Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng Xanh (Module 10 - ICT, 1 LHQ và ADB, Tăng trưởng Xanh, tài nguyên và ứng phó: Bền vững Môi trường ở châu Á và Thái Bình Dương (Bangkok, 2012), trang XV. Có tại http://www.org/esd/environment/flagpubs/GGRAP.

2OECD, Báo cáo tạm thời của Chiến lược Tăng trưởng xanh: Thực hiện cam kết của chúng ta cho một tương lai bền vững (2010). Có tại http://www.org/document/3/0, 3746, en_2649_201185_45196035_1_1_1_1, 00. 7 Climate Change and Green Growth) năm trong bộ tài liệu bộ tài liệu “Academy of ICT Essentials for Government Leaders”. Tài liệu đã đưa ra định nghĩa về tăng trưởng xanh là “tập trung nhấn mạnh vào phát triển kinh tế bền vững với môi trường để thúc đẩy phát triển toàn diện về xã hội và ít các bon”.

Theo bài viết Tăng trưởng xanh, chính sách quốc gia của Hàn Quốc, đạt được chú ý toàn cầu của Stacy Feldman, đã xem xét môi trường như một đối tác, việc đầu tư được khuyến khích vào những hoạt động kinh tế mà nó thiết lập và tăng cường nguồn vốn tự nhiên của trái đất. “Tăng trưởng xanh tập trung vào việc giảm sự khan hiếm về sinh thái và hiểm họa về môi trường, thúc đẩy quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp một cách bền vững. Tăng trưởng xanh cũng bao gồm các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn như sự phát triển của năng lượng tái tạo, giao thông ít các bon và các tòa nhà sử dụng năng lượng và nước hiệu quả”. Về cơ bản, ý tưởng này là mô hình mới để điều hành nền kinh tế theo cách hạn chế suy thoái môi trường và đảm bảo sự thịnh vượng.

Công nghệ thông tin Công nghệ Thông tin (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin. 4 Thuật ngữ "Công nghệ thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review. Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT)".

5 Các lĩnh vực chính của CNTT bao gồm quá trình tiếp thu, xử lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông.6 Một vài lĩnh vực hiện đại và nổi bật của CNTT như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác. Các nghiên cứu phát triển chủ yếu trong ngành khoa học máy tính. 3 Stacy Feldman, "Tăng trưởng xanh, chính sách quốc gia của Hàn Quốc, Đạt được chú ý toàn cầu", thời báo Giải quyết Khí hậu, 26 tháng một 2011. Có tại http://bit.

4 “Princeton WordNet Search 3. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 5 Management in the 1980‟s, Harold J. Leavitt and Thomas L.

Whisler, Harvard Business Review, 1958-11. 6 Longley, Dennis; Shain, Michael (2012), Dictionary of Information Technology (ấn bản 2), Macmillan Press, tr. Về các yếu tố ảnh hưởng Năm 2005, nhân dịp Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm về Môi trường và Phát triển đã diễn ra tại Seoul, UNESCAP nhận một nhiệm vụ để thúc đẩy tăng trưởng xanh như một chiến lược để đạt được phát triển bền vững cùng lúc đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) thứ nhất về giảm nghèo và thứ 7 về bền vững môi trường7. Kết quả của hội nghị là sự thống nhất về một kế hoạch thực hiện trong khu vực để phát triển bền vững khu vực Châu Á Thái Bình Dương.

Kế hoạch kêu gọi cải thiện môi trường bền vững; tăng cường hoạt động môi trường; thúc đẩy bảo vệ môi trường như một cơ hội để sự tăng trưởng kinh tế bền vững; tích hợp DRM (Disaster Risk Management - quản lý rủi ro thiên tai) vào các chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một Tuyên bố chung của các Bộ trưởng về Môi trường và Phát triển ở châu Á và Thái Bình Dương đã được thống nhất. Sáng kiến Seoul về tăng trưởng xanh cũng được thống nhất. Sáng kiến này thiết lập một số mục tiêu như sau: (1) Nâng cao hiệu quả sinh thái cho môi trường bền vững.

(2) Tăng cường hoạt động môi trường. (3) Tăng cường bảo vệ môi trường như một cơ hội để phát triển bền vững. (4) Tích hợp DRM và chuẩn bị sẵn sàng các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Từ hội nghị này, một số chương trình và các hoạt động trong khu vực đã được đưa ra để giúp đạt được các mục tiêu đã được thống nhất trong năm 2005.

Chúng bao gồm các sáng kiến khu vực và quốc tế sau đây: (1) Chương trình Biến đổi khí hậu của ADB, Sáng kiến hiệu quả năng lượng, Sáng kiến thị trường các bon, Sáng kiến giao thông bền vững và Sáng kiến phát triển các Thành phố châu Á.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ