Chương 1. Giới thiệu Chương | trinh bày lí đo chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, còn bao gỏm các phần như đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cầu của tiêu luận. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 2 trình bày lý thuyết về chát lượng, VHCL, ĐBCLGD và các yếu tố ảnh hưởng đến CLGD.
Dựa trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra mô hình nghiên cứu lý thuyết và các giả thuyét. Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong bài tiêu luận. Ngoài ra, tiêu luận còn thẻ hiện cách thức lấy mẫu, trình tự xử lý dữ liệu nghiên cứu, đánh giá mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Kết quá nghiên cứu Chương 4 trình bày mẫu nghiên cứu chính thức.
Bên cạnh đó, quy trình phân tích dữ liệu bao gồm: sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá thang đo, phân tích yếu tố EFA, đánh giá mô hình lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu. Kết luận và hàm y quan tri Chương 5 kết luận lại kết quả nghiên cứu đạt được. Từ đó, tiến hành đưa ra các hàm y quan tri nhằm ĐBCLGD tại IUH. Ngoài ra, nghiên cứu đưa ra một số hạn ché và dé xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.
Danh mục tài liệu tham khảo 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm 2. Chất /ượng là gì? Viện tiêu chuẩn Anh Quéc (British Standards Institution, viét tat 1a BSI) dinh nghĩa chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của một sản phâm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những nhu cầu được xác định rõ hoặc ngam hiéu” (BSI, 1991). Green va Harvey (1993) đã xác định năm (05) cách tiếp cận khác nhau đê định nghĩa chất lượng như sau: Chất lượng là sự vượt trội (đạt tiêu chuẩn cao và vượt quá yêu cau); Chất lượng là tính ôn định (thê hiện qua tình trạng “không có khiếm khuyét” va tinh than “làm đúng ngay từ đầu”, biến chất lượng thành một văn hóa); Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (tức sản phâm hoặc dịch vụ đáp ứng đúng những mục đích đã đề ra, theo đúng các đặc tá và sự hài lòng của khách hàng); Chất lượng là đáng giá đồng tiền (có hiệu quả và hiệu suất cao); Chát lượng là tạo sự thay đổi (những thay đôi về chất lượng).
Những quan niệm khác nhau về chất lượng này đã khiến Reeves và Bednar (1994) két luận rằng: “Cuộc tìm kiếm một định nghĩa thống nhát và một phát biêu có tính quy luật về chất lượng đã bị thất bại”. Theo Gummesson (1990), có lẽ cần làm sao để mọi người cùng đồng thuận vẻ cách hiểu cái thực thế mơ hồ nhưng phức tạp và đa diện mà ta gọi là chất lượng hơn là tìm cách đưa ra một định nghĩa về chất lượng. Garvin (1988) đã phân loại các định nghĩa chất lượng ra thành năm (05) nhóm chính: (1) Những định nghĩa mang tính “tiên nghiệm”. Đây là những định nghĩa dựa trên cảm nhận chủ quan.
Những định nghĩa nảy tồn tại rất bền vững, nhưng không thê đo lường và cũng không thế mô tả một cách logic. Có thế nói chúng cũng giống như những khái niệm về “tình yêu' hoặc ‘cai dep’. (2) Những định nghĩa dựa trên sản phâm. Chất lượng được coi như những biến số đo lường được.
Căn cứ đề đo lường là dựa trên những thuộc tính khách quan của sản pham. (3) Những định nghĩa hướng vẻ người sử dụng. Chất lượng là một phương tiện để đáp ứng sự hài lòng của khách hàng. Điều này khiến những định nghĩa nảy có phần chủ quan và mang tính cá nhân.
(4) Những định nghĩa dựa trên hoạt động sản xuất. Chất lượng được xem là sự đáp ứng những yêu cầu và thông số kỹ thuật của sản phâm. 7 8 (5) Những định nghĩa dựa trên giá trị. Những định nghĩa này xác định chất lượng trong mối tương quan với chỉ phí.
Chất lượng được coi là sự cung cáp những giá trị tốt so với chỉ phí bỏ ra (Largosen và đồng nghiệp, 2004). Quanh khái niệm chát lượng ta có thế nhận ra một số ý tưởng chính yéuỷ, đó là: Chất lượng có tính tuyệt đối, chất lượng có tính tương đối, chất lượng như một quá trình, va chat lượng như một văn hóa. Khi chúng ta xem chát lượng là tuyệt đối, nó được xem như là những tiêu chuân cao nhát có thẻ có. Ví dụ như bức tranh “Mona Lisa” của Da Vinci, Kim tự tháp Hy Lạp hoặc Lang Taj Mahal ở Ân Độ là những tuyệt tác với tiêu chuẩn chát lượng tuyệt vời.
Xét theo khía cạnh sản phẩm, chúng luôn đi kèm với những “thương hiệu” cao, có lợi thế về đăng cấp và vị trí. Những tỏ chức giáo dục như Oxford, Cambridge và Stanford ở phương Tây có thẻ được hiểu là đạt chuẩn chat lượng theo nghĩa tuyệt đối, mặc dù khi xét trong trường hợp của ngành giáo dục điều này vẫn có ít nhiều cảm tính. Quan niệm “chất lượng là tương đối” thì cho rằng chát lượng của một sản phám hoặc dịch vụ chỉ có giá trị tương đối. Chất lượng ở đây có thê được đo lường bằng những tiêu chí nhát định.
Theo Mukhopadhyay (2005) việc tuân thủ các “đặc điểm kỹ thuật của sản phám thực sự là điều kiện tối thiếu về chất lượng, nhưng không phải là điều kiện đủ”. Điều kiện đủ là sự hài lòng của khách hàng và hơn thế nữa” (p. Quan niệm “chất lượng như một quá trình” cho rằng đề đạt được chất lượng của một san phẩm hoặc dịch vụ, nhát thiết phải trải qua những quá trình nhát định và tuân theo những yêu câu về thủ tục. Do đó, chất lượng là kết quả của những hệ thống và quy trình được lập ra cho một mục tiêu.
Cuối cùng, chất lượng như một văn hóa —- công nhan tam quan trọng của việc một tô chức xem chát lượng là một quá trình chuyền đổi, trong đó mỗi bộ phận đều quan tâm và thừa nhận tàm quan trọng cua chát lượng. Quan niệm cuối cùng này đặc biệt đáng quan tâm trong các cơ sở giáo dục, tuy nhiên các ý tưởng khác về chất lượng đều có vai trò của chúng. Đề tóm lược những thảo luận trên day, Barnett (1992) da trích dẫn một khái niệm được đưa ra bởi Barrow (1991) để định nghĩa “chất lượng” trong giáo dục Đại học: “. một quá trình giáo dục được đánh giá cao khi được chứng minh rằng, qua quá trình đó sự phát triển về giáo dục của sinh viên đã được nâng cao.
những sinh viên này không những đạt được những mục tiêu đã đề ra của khóa học, mà còn hoàn thành những 8 9 mục tiêu giáo dục tông quát như khả năng độc lập tham gia vào những cuộc tranh luận dựa trên lý lẽ, khả năng tự đánh giá một cách khách quan, và có nhận thức đúng đắn về những hệ quả sâu xa của mọi suy nghĩ và hành động” (p. Từ những thảo luận trên đây, có thế nhận tháy rằng khái niệm chất lượng là một khái niệm không xác định và phụ thuộc vào ngữ cảnh. Nó có một phổ nghĩa từ “chuẩn mực” đến “xuất sắc”. Cả hai nghĩa này đều đã bám rễ sâu và được thê hiện qua cách hoạt động của từng cá nhân, tỏ chức, và, như bạn sẽ thấy dưới đây, của cả một đất nước.
“Chuẩn mực có thê được hiểu bằng khái niệm “ngưỡng: tối thiểu mà theo đó hiệu quả của công việc sẽ được đánh giá (Ashcroft & Foreman-Peck, 1996, p. Trong bói cảnh này, chất lượng đồng nghĩa với hoạt động đánh giá, được hiệu theo nghĩa nó là tập hợp các tiêu chuân dựa trên quy chiếu nhóm chuẩn (norm-referenced standards), chang hạn như Tiêu chuẩn của NAAC, được xây dựng dựa trên yêu cầu về mức tối thiêu và cao hơn. Ở phía bên kia của phô nghĩa là quan điềm xem chất lượng là sự xuất sắc (tương tự như những gì Green và Harvey gọi là vượt trội). Xuất sắc là trạng thái thành tích đặc biệt, vượt trội, không có lỗi và đạt mức hài lòng cao nhát từ các bên có liên quan.
Trong giáo dục Đại học, mục tiêu Của chúng ta là đạt được các “chuẩn mực” và tiền gần hơn về Sự ”xuất sắc”. Văn hóa chất Iượng là gì? Khái niệm "văn hóa chất lượng" bắt nguồn từ đầu thế ký XX ở một số trường Đại học trong Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn khó khăn đề tìm một định nghĩa thống nhát về khái niệm này, (Tràn Minh Tú, 2018). Theo Hiệp hội Đại học Châu Âu (2006) "Van hoa chat lượng là một loại văn hóa tô chức trong đó chất lượng cải thiện được coi là một hoạt động thường xuyên bao gồm hai yéu tó riêng biệt, đó là, các yếu tố văn hóa/tinh thần (tập hợp các giá trị, niềm tin, kỳ vọng) và các yéu tó hành chính/cáu trúc (quy trình dam bao chat lượng, nỗ lực hợp tác)." Tiếp cận từ khía cạnh giá trị, VHCL là một biêu hiện và là một phản của tô chức văn hóa, "một hệ thống các giá trị của một tổ chức tạo ra một môi trường khuyén khích thành lập và cải tiền liên tục chất lượng", (Đại học Quốc Té Florida).
Điều này ngụ ý rang, đề có thê xây dựng và phát triền VHCLtheo cách tiếp cận này, các trường Đại học cần tập trung vào các ván đề sau: triết lý hoạt động, phương pháp quản lý, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp xây dựng mối quan hệ và chất lượng, phương pháp cải tiền. Các trường Đại học cần phải có định hướng, chiến lược và kế hoạch đề tạo ra chất lượng chuyền 9 10 đôi làm tiền đề đề thiết lập chất lượng văn hóa trong chính họ. Do đó, cần thiết có sự lãnh đạo nhất quán và đồng hướng từ trên xuống đưới, sự đồng thuận và cam kết thay đổi cách suy nghĩ, thói quen, và hành vi của tất cả các thành viên của tô chức. Ngoài ra, còn có các định nghĩa khác của một VHCL được giới thiệu và sử dụng khá nhiều.
Theo Diễn đàn Đảm bảo Chat lượng Châu Âu (EQAF, 2010), VHCL của một cơ sở giáo dục Đại học là tô chức văn hóa với tiêu chí chất lượng được xây dựng từ nội bộ và hệ thống đảm bảo chát lượng bên ngoài, thỏa thuận và thực hiện đề tiếp tục cải thiện các hoạt động đảm bảo chát lượng của cơ sở giáo dục Đại học. Trong Education Magazine (số đặc biệt thang 8/2018), VHCL của tác giả được hiệu là một loại hình văn hóa tô chức đặc biệt chứa đựng niềm tin, giá trị, kỳ vọng và cam két hiện thực hóa dựa trên nỗ lực của mỗi cá nhân trong một tô chức.