Chương 1: Nội dung nghiên cứu nhằm giới thiệu, khái quát những thuật ngữ, khái niệm chung liên quan đến các yếu tố thành công cho Starup công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ở Việt Nam và trên thế giới. Đây là những lý thuyết đã được hệ thống hoá và công bố trong các sách, báo, tạp chí hoặc tài liệu tham khảo khác về các yếu tố thành công của Startup trong cuộc cách mạng công nghiệp 4. Tổng quan về Starup ở Việt Nam 1. Khái niệm về sự thành công Thành công là một khái niệm không đồng nhất.
Mỗi người có một định nghĩa riêng. Mỗi thời đại, mỗi xã hội, dù dựa trên một số giá trị phổ quát chung, thì ý niệm về thành công vẫn có sự chuyển dịch. Và trong thế kỷ 21, thế kỷ của những sự thay đổi, định nghĩa thành công càng có những biến đổi mạnh mẽ, đa dạng hơn, thách thức hơn. Với hầu hết chúng ta, thành công và ý nghĩa cuộc đời trùng khít với nhau, bởi đó chính là kết tinh chuỗi hành động của bản thân mình.
Chúng ta đặt ra những mục tiêu để nỗ lực đạt tới. Học tập, làm việc, đua tranh, khẳng định tên tuổi là cách chúng ta từng bước chinh phục đỉnh cao. Hành trình chạm đến thành công là hành trình không có điểm dừng, bởi khi ta đặt chân lên nấc thang này, lại có những nấc thang cao hơn, thử thách hơn do xã hội kỳ vọng hay do chính bản thân buộc ta bước tới. Dưới đây là 1 số khái niệm và quan điểm về sự thành công của những người nổi tiếng và được xem là thành công ở 1 khía cạnh nào đó trên thế giới: Theo vị chủ tịch kiêm CEO của Berkshire Hathaway, Warren Buffett đã từng nói với các cổ đông trong một cuộc họp thường niên: "Thành công của tôi được đo lường thông qua bao nhiêu người yêu mến tôi".
Còn theo cựu tổng thống Mỹ Barack Obama: “Thành công không phải là số tiền kiếm được, mà là sự khác biệt ông ấy đã tạo ra cho cuộc sống của mọi người". 10 Tỷ phú John Paul DeJoria là nhà đồng sáng lập hai công ty rất thành công, đó là hãng sản phẩm chăm sóc tóc Paul Mitchell và thương hiệu rượu tequila Patron. Trong một cuộc phỏng vấn với Business Insider, John Paul DeJoria tin rằng: "Thành công không phải là số tiền bạn có, không phải là vị trí bạn đang ngồi. Thành công là khi bạn làm thật tốt công việc của mình ngay cả lúc chẳng có ai để ý theo dõi cả" Nhưng người đồng sáng lập Microsoft - Bill Gates lại quan niệm rằng: “Thành công là xây dựng được các mối quan hệ bền vững và những di sản để lại cho xã hội”.
Tỷ phú Richard Branson, nhà sáng lập Virgin Group, một tập đoàn trị giá 5 tỷ đô la Mỹ, cho rằng thành công là những điều làm bản thân bạn cảm thấy hài lòng. Richard Branson đã viết trên Linkedln rằng: "Quá nhiều người đo lường mức độ thành công bằng số tiền mà họ kiếm được hoặc số người mà họ hợp tác. Với tôi, thành công thực sự phải được đo bằng hạnh phúc của chính mình". Nhà thơ vĩ đại quá cố Maya Angelou đã qua đời ở tuổi 86 vào năm 2004, bà đã để lại cho đời nhiều tác phẩm và câu cách ngôn nổi tiếng.
Theo nhà thơ Maya Angelou: "Thành công nghĩa là biết trân trọng bản thân, coi trọng những gì đang làm và cách bạn đang làm nên chuyện đó". Diễn giả Stephen Covey là một tác giả cực kỳ thành công với cuốn sách "The Seven Habits of Highly Effective People - Bảy thói quen mang lại hiệu quả cao" xuất bản vào năm 1989. Tác phẩm này đã trở thành một phần của văn hóa đại chúng Mỹ và đến nay đã bán được hơn 25 triệu bản. Tuy nhiên, đối với Covey: “Thành công là thứ không thể có định nghĩa chung cho mọi người”.
Từ những nhận thức trên, tác giả đưa ra khái niệm về “Sự thành công” như sau: “Thành công không phải là đích đến mà là cuộc hành trình của mỗi cá nhân, tổ chức và qua đó chúng ta xem thành công là sự thỏa mãn với những gì mình đạt được”. Tổng quan về Startup 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo Wikipedia, Doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 của Chính phủ, quy định: 1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Khái niệm về khởi nghiệp Khái niệm Khởi nghiệp đã có từ lâu đời, thậm chí cách đây 2500 năm Khổng Tử đã đề cập đến “khởi nghiệp” khi nói “tam thập nhi lập”, để khuyên người ta bắt đầu khởi nghiệp, lập nghiệp ở tuổi 30. Cách đây khoảng 250 năm, Jean-Baptiste Say nhà kinh tế học người Pháp, lần đầu tiên đưa ra khái niệm về Khởi nghiệp: “Khởi nghiệp là đổi mới có mục đích và có hệ thống. Người khởi nghiệp dịch chuyển các tài nguyên kinh tế từ nơi có hiệu suất, sản lượng thấp sang nơi có hiệu suất, sản lượng cao” Về phương diện học thuật, ở trong nước, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về Khởi nghiệp.
Chẳng hạn, tác giả Chương Văn Dũng, “Khởi nghiệp là một quá trình bắt đầu tư việc nhận biết cơ hội, từ đó thúc đẩy việc phát triển ý tưởng cho đến thành lập doanh nghiệp và cuối cùng là vận hành, duy trì và phát triển doanh nghiệp”. Tác giả Lê Thị Nam Giang thì cho rằng “Khởi nghiệp là bắt đầu (khởi) một nghề nghiệp, sự nghiệp (nghiệp). Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt nghĩa là bắt đầu một điều gì đó mới, một thời kỳ mới. Khởi nghiệp có thể hiểu theo nghĩa tiếng Việt là khi một cá nhân có ý định tự mình bắt đầu một công việc kinh doanh riêng và tự mình làm chủ.
Hay có thể hiểu khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng 13 kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu”. Nguồn: Trường Lam Sơn, 2019, bài viết “Khởi nghiệp là gì?” Hình 1.1: Minh họa khái niệm khởi nghiệp Tác giả Vũ Quang Huy có bài viết (2016) trên trang law.net, lại đưa ra khái niệm Khởi nghiệp có thể hiểu đơn giản “Khởi nghiệp hiểu nôm na là bắt đầu (khởi) một nghề nghiệp, sự nghiệp (nghiệp)”. Thạc sỹ Trần Quang Huy có bài nghiên cứu (2017) trên trang khoinghieptre.vn lại cho rằng: “Khởi nghiệp có thể là quá trình tạo ra một lĩnh vực hoạt động mới cho riêng mình. Qua đó bạn có thể thuê các nhân viên về làm việc cho bạn và bạn là người quản lý công ty, doanh nghiệp của mình.
Khởi nghiệp mang lại rất nhiều giá trị cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội, cho người lao động”. Qua đó, ta có thể thấy việc khởi nghiệp có thể là bạn tự mở cho mình một cửa hàng như bún bò, phở, xôi sáng, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa 14 hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ thương mại tức mà mua đi bán lại. Khởi nghiệp là bạn vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn bạn tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Đối với cá nhân theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê.
Họ được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại. Đối với xã hội và nền kinh tế thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm. Điều này giúp đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình.