mở đầu cho sự thay đổi. Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu của dự án (PMBOK, 2013). Young (2007) định nghĩa Quản lý dự án là một quá trình nỗ lực nhằm tận dụng những nguồn lực thích hợp có kiểm soát và một cấu trúc cụ thể nhằm đạt được một số mục tiêu chiến lược cụ thể. Lake (1997) định nghĩa Quản lý dự án là việc áp dụng một tập hợp các công cụ và kỹ năng để sử dụng các nguồn tài nguyên đa dạng nhằm hoàn hành một mục tiêu phức tạp và duy nhất trong một khoảng thời gian, chi phí và chất lượng giới hạn.
Quản lý dự án là phương pháp được sử dụng để kiểm soát công việc, lịch trình, và chi phí của một dự án (Cagle, 2005). Theo PMBOK Guide thì Quản lý dự án được phân ra thành 9 thành phần chính khác nhau(PMBOK, 2013). Quản lý tích hợp (Integration Management). Quản lý phạm vi, yêu cầu của dự án (Scope management).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý thời gian (Time management). Quản lý chi phí (Cost management). Quản lý chất lượng (Quality management).
Quản lý nguồn nhân lực (Human resourse management). Quản lý truyền thông (Communication management). Quản lý rủi ro (Risk management). Quản lý mua sắm, đấu thầu, hợp đồng (Procurement management).
Quản lý phạm vi dự án: Những thay đổi trong qui mô hay phạm vi của dự án sẽ làm dự án thất bại. Quản lý quy mô dự án bao gồm: ủy quyền công việc, phân chia công việc theo những quy mô có thể quản lý được, kiểm soát bằng cách so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch, xác định quy trình thủ tục khi phải thay đổi quy mô dự án. Quản lý thời gian dự án: Quản lý thời gian không phải và không chỉ là những nỗ lực cá nhân nhằm quản lý quỹ thời gian của riêng mình mà nó bao gồm việc lập một lịch trình cụ thể các công việc phải làm và điều khiển các công việc nhằm đảm bảo rằng các lịch trình đó phải được thực hiện. Quản lý chi phí dự án: Quản lý chi phí dự án là công việc ước tính chi phí các nguồn lực bao gồm trang thiết bị, nguyên vật liệu, con người và các chi phí hỗ trợ khác.
Một khi chi phí đã được ước tính, ngân sách dự án sẽ được xác định và kiểm soát sao cho dự án luôn nằm trong phạm vi ngân sách và tiến độ. Quản lý chất lượng dự án: Dưới áp lực của tiến độ và ngân sách ràng buộc, chất lượng của dự án có thể bị bỏ qua. Một dự án hoàn thành đúng thời gian sẽ không có tác dụng nếu kết quả của nó không sử dụng được. Quản lý chất lượng bao gồm việc lên kế hoạch nhằm đạt được các yêu cầu về chất lượng và quản lý chất lượng bằng cách tiến hành các bước để xác định xem các kết quả đạt được có phù hợp với yêu cầu chất lượng hay không.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quản lý nhân sự dự án: Say mê tiến độ, quan tâm chất lượng, kiểm soát chi phí là những nội dung có thể làm cho công tác quản lý nhân sự bị quên. Công tác quản lý nhân sự của dự án bao gồm: xác định những ai cần phải cho công việc, xác định vai trò quyền hạn và trách nhiệm, xác định trách nhiệm báo cáo với cấp trên, tìm kiếm nhân sự phù hợp và quản lý họ. Quản lý thông tin dự án: Nội dung quản lý thông tin dự án bao gồm: lên kế hoạch, thực hiện, điều hành và truyền đạt những thông tin liên quan đến tất cả các bên liên quan của dự án. Quản lý rủi ro dự án: Quản lý rủi ro là một quy trình quản lý có hệ thống bao gồm: xác định hay nhận diện các rủi ro, định hướng rủi ro, phân tích rủi ro và lập kế hoạch đối phó với các rủi ro.
Quản lý cung ứng dự án: cung ứng hàng hóa, dịch vụ và cơ sở hạ tầng cho dự án là công việc hậu cần của dự án, nó bao gồm các công việc: đưa ra các quyết định cần cung ứng cái gì, ra sao, chọn nhà cung ứng, ký kết hợp đồng. Quản lý tích hợp dự án: công việc quản lý tích hợp dự án nhằm đảm bảo dự án được tiến hành theo quy trình: lên kế hoạch, thực hiện và cả khi thay đổi kế hoạch.3 Khái niệm thành công dự án. Đầu những năm 90 khái niệm thành công sự án thường gắn liền với sự đo lường kết quả của dự án, nó tường gắn liền với mục tiêu của dự án. Ở cấp độ dự án thì sự thành công được đo lường dựa trên cơ sở về thời gian, chi phí tiền tệ và kết quả dự án (Navarre & Schaan, 1990).
Thời gian, chi phí và chất lượng dự án thường là những tiêu chí cơ bản để đánh giá sự thành công của một dự án, hầu hết các nghiên cứu liên quan đến sự thành công của dự án đều đề cập tới ba tiêu chí này, chẳng hạn như Walker (1995, 1996), Belassi Tukel (1996), Hatush LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thậm chí Alkinson (1999) đã gọi ba tiêu chí này là “Tam Giác Sắt”. Đánh giá thành công dự án cũng có thể thay đổi tùy theo người đánh giá. Tiêu chí thành công toàn diện sẽ phản ánh lợi ích khác nhau và quan điểm dẫn đến sự cần thiết một phương pháp tiếp cận đa chiều (Cooper and Kleinschmidt 1987, Pinto and Mantel 1990, Freeman and Beale 1992) Theo Chan (2001) thì từng ngành, nhóm dự án, cá nhân sẽ có một định nghĩa khác nhau về thành công của dự án.
Pariff và Sanvido (1993) xem xét thành công của một dự án như là một cảm giác sâu sắc vô hình, một tiêu chuẩn đo lường thay đổi tùy theo mong đợi của nhà quản lý dự án, các cá nhân tham gia vào dự án tại từng giai đoạn khác nhau. Trên thực tế, chủ dự án, nhà thiết kế, chuyên gia tư vấn, nhà thầu cùng các thành viên khác đều có mục tiêu và tiêu chi đánh giá thành công của dự án khác nhau. Một dự án xây dựng thường được công nhận là thành công khi nó được hoàn thành đúng thời hạn, trong ngân sách, và phù hợp với thông số kỹ thuật và sự hài lòng của các bên liên quan. Một cách khác, khả năng sinh lợi cho các nhà thầu, không có tranh chấp khiếu nại và "phù hợp cho mục đích" của người sử dụng cũng được dùng như là một biện pháp để đo lường sự thành công của dự án (Takim và Akintoye, 2002).
Theo Tusler (1996), Mierendorff (2011) và Hans (2012) cho rằng thành công của dự án đóng tàu có thể được đo lường theo ba tiêu chí chính là hoàn thành dự án đúng cam kết, trong ngân sách và đáp ứng đầy đủ yêu cầu kỹ thuật đã được thống nhất từ lúc bắt đầu dự án. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Vòng đời của dự án. Như đã được định nghĩa ở trên, mỗi dự án là được hình thành nhằm đạt được một mục tiêu duy nhất và cụ thể, do đó dự án nào cũng trải qua một chu trình từ khởi đầu đến kết thúc. Tùy theo loại hình dự án, cách tiếp cận, các nhà nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các giai đoạn phát triển khác nhau của một dự án.
Vòng đời dự án được chấp nhận phổ biến nhất cho một dự án bất kể quy mô lớn hay nhỏ, phức tạp hay đơn giản thường bao gồm các giai đoạn sau: 1-khởi tạo dự án, 2-Tổ chức và chuẩn bị, 3-thực hiện kế hoạch dự án, 4-kết thúc dự án (PMI, 2013). Theo thời gian phát triển của dự án từ giai đoạn khởi tạo dự án cho đến kết thúc dự án thì sự thay đổi chi phí thực hiện dự án tăng dần, có nghĩa là giai đoạn đầu thì tốc độ thay đổi chi phí của dự án không nhiều nhưng chính giai đoạn đầu này là giai đoạn mà các bên liên quan tác động nhiều đến dự án nhất, cũng như dự án chứa đựng rất nhiều rủi ro và các yếu tố không chắc chắn. Càng về sau khi dự án đã được xác định rõ ràng thì ảnh hưởng của các yếu tố này càng giảm dần. Theo Hans (2012) thì dự án đóng tàu được chia thành năm giai đoạn: xác định phạm vi dự án, thống nhất các đặc điểm kỹ thuật, đàm phán thương lượng, triển khai dự án, kiểm tra nghiệm thu và bàn giao.
(2009) và GAO (United States Government Accountability Office) thì dự án đóng tàu được chia thành 4 giai đoạn lớn và 11 giai đoạn nhỏ. Hình 2-2 : Qui trình điển hình của một sản phẩm ngành đóng tàu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Rủi ro và quản lý rủi ro. Rủi ro dự án là một sự kiện hoặc tình trạng không chắc chắn, mà nếu nó xảy ra sẽ tác động tiêu cực hoặc tích cực lên một hoặc nhiều mục tiêu của dự án như phạm vi, thời gian, chi phí và chất lượng. Một rủi ro có thể xuất phát từ một hoặc nhiều nguyên nhân và nếu xảy ra sẽ có một hoặc nhiều tác động khác nhau.
Một nguyên nhân có thể là một yêu cầu nhất định hoặc tiềm năng, giả định, hạn chế, hay điều kiện mà từ đó có khả năng tạo ra kết quả tiêu cực hay tích cực. Những rủi ro có thể bao gồm các khía cạnh của dự án hoặc môi trường của tổ chức góp phần vào rủi ro dự án, chẳng hạn như phương thức quản lý dự án chưa hoàn thiện, thiếu hệ thống tích hợp quản lý, nhiều dự án đồng thời, hoặc phụ thuộc vào người tham gia bên ngoài và ngoài tầm kiểm soát trực tiếp của dự án (PMBOK, 2013). Một rủi ro là một tác hại tiềm ẩn trong tương lai có thể bắt nguồn từ một hành động trong hiện tại, chẳng hạn như chậm tiến độ dự án hay vượt quá ngân sách cho phép (Williams, 2004). Pieplow (2012) viết trong “Scalable Project Risk Management Handbook” thì, Rủi ro là một sự không chắc chắn rằng rằng một vấn đề nào đó có thể ảnh hưởng đến mục tiêu dự án tiêu cực hay tích cực.
Sự không chắc chắn này có thể là một sự kiện trong tương lai có thể xảy hoặc không, mà mức độ tác động của nó lên các mục tiêu dự án là khó xác định được. Do đó, một "rủi ro" được đặc trưng bởi xác suất của nó có thể xảy ra và và sự ảnh hưởng không chắc chắn lên mục tiêu dự án.