Phần mở đầu. Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Tổng quan các nghiên cứu có liên quan. Phần này chủ yếu trình bày những khái niệm, những lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Tổng quan về các tài liệu nghiên cứu trước đây. Chương 3: Phương pháp và Mô hình nghiên cứu. Chương trình bày những phương pháp áp dụng trong nghiên cứu để đạt được mục tiêu mà đề tài đặt ra; Mô hình nghiên cứu; phương thức thu thập dữ liệu và các kỹ thuật phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương thể hiện kết quả đánh giá thực trạng nguồn vốn FDI, số lượng dự án FDI đầu tư vào vùng ĐBSCL giai đoạn 2010-2018; Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố môi trường thể chế đến thu hút FDI của vùng. Từ đó đề xuất các gợi ý chính sách để góp phần nâng cao khả năng thu hút FDI vào vùng ĐBSCL trong thời gian tới. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Nhằm mục đích chính là tổng kết lại những điểm nổi bật, những hạn chế của kết quả nghiên cứu.
Đồng thời đề xuất một số hướng nghiên cứu mới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Nội dung chương này giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu, các lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu, các yếu tố liên quan môi trường thể chế đến thu hút dự án FDI và các nghiên cứu trước đã thực hiện làm dẫn chứng cho các phương pháp, mô hình dự kiến áp dụng trong nghiên cứu này. Các khái niệm có liên quan 2. Khái niệm về môi trường thể chế Davis & North (1971) khẳng định môi trường thể chế là “tập hợp các mặt cơ bản về chính trị, xã hội, pháp lý, các quy tắc thiết lập cho việc sản xuất, trao đổi và phân phối”, cũng theo North nội dung và chất lượng của các hệ thống như (luật, qui định và thủ tục) và các thể chế phi chính thức (như các quy ước, chỉ tiêu) là cơ chế để xác định sức mạnh của môi trường thể chế.
Theo North (1990), thể chế được định nghĩa là “các ràng buộc do con người tạo ra nhằm để cấu trúc các tương tác giữa người với người”.Thể chế bao gồm các thể chế chính thức và phi chính thức. - Thể chế chính thức là những ràng buộc được chế tài bởi Nhà nước như hiến pháp, luật, các qui định. - Thể chế phi chính thức là những ràng buộc không thuộc phạm vi chế tài của nhà nước như tập quán, qui tắc hành xử, văn hóa,… Trong khi đó, Chiles (2007) thì cho rằng môi trường thể chế của quốc gia bao gồm các chỉ tiêu chính thức và không chính thức, quy tắc, và các giá trị chi phối trao đổi kinh tế và xã hội, có ảnh hưởng lớn tới tốc độ và tính chất của hoạt động kinh doanh trong xã hội. Khái niệm “thể chế” thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến (Phan Văn Ninh, 2019): LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Theo cách hiểu thứ nhất, thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức hoặc không chính thức hay những nhận thức chung có tác động đến việc kìm hãm, định hướng hoặc kiểm soát mối quan hệ tương tác giữa các chủ thể chính trị với nhau trong các lĩnh vực nhất định.
Các thiết chế thể chế được ban hành và đảm bảo thực hiện bởi chính phủ và các tác nhận phi chính phủ (như các tổ chức ngành nghề hoắc cơ quan kiểm định). Các quy tắc chi phối mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân hay tổ chức có thể mang tính chính thức hoặc không chính thức. Các quy tắc chính thức chi phối bao gồm hiến pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật. Trong khi đó các quy tắc không chính thức tồn tại thì có vai trò nới rộng phạm vi ảnh hưởng, cụ thể hóa hoặc điều chỉnh các quy tắc chính thức và điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong mối quan hệ thông qua các quy tắc xã hội (truyền thống, tập tục, tính ngưỡng dân gian…) hay các quy tắc ửng xử trong nội bộ.
Vai trò của các thể chế thể hiện ở việc tạo ra một quy tắc chung cho các chủ thể hoạt động mà ở đó các hoạt động của chủ thể có thể dễ tiên đoán hơn và cho phép các chủ thể định ra mực độ kỳ vọng đạt được đông thời giảm thiểu được các rủi ro trong quá trình tương tác với nhau. - Theo cách hiểu thứ hai, thể chế là các cơ quan, tổ chức nhà nước với chức năng điều chỉnh các hoạt động tương tác giữa các chủ thể theo một chức năng được định hình sẵn và áp dụng cho toàn bộ các chủ thể khác nhau. Đổi với quốc gia các thể chế chính trị thường bao gồm chính phủ, quốc hội, cơ quan tư pháp. Mối quan hệ giữa các thể chế này được quy định trong Hiến pháp.
Thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ, quy định, quy tắc,. về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm; các tổ chức kinh tế; cơ chế vận hành nền kinh tế (theo Phan Văn Ninh, 2019). Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là loại hình thể chế kinh tế nhiều thành phần bao gồm nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nhưng chịu sự tác động chi phối, điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Là nền kinh tế trong đó tồn tại nhiều loại hình thức sở hữu. Các chủ thể kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tế được tự do sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh theo cơ chế thị trường (theo Phan Văn Ninh, 2019). Vai trò của thể chế kinh tế với sự phát triển kinh tế xã hội Một là, định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức, hoạt động của nền kinh tế. Thể chế kinh tế là những luật lệ, qui tắc nên vai trò hàng đầu của nó là định hướng, hướng dẫn hành vi và tạo khung khổ pháp lý cho việc tổ chức hoạt động của nền kinh tế, tác động lớn đến sự lựa chọn và việc quyết định sản xuất cái gì, đầu tư như thế nào vào lĩnh vực nào, ở đâu.
của các chủ thể kinh tế. Hai là, thể chế kinh tế thiết lập nên các nền tằng cho nền kinh tế như: các loại hình thức sở hữu, các thành phần chủ thể trong nền kinh tế và các mô hình, hình thức sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Ba là, thể chế kinh tế đóng vai trò chủ thể quản lý và đề ra các công cụ nhằm kiểm soát, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong đó nhà nước cũng đóng vài trò là một chủ thể trong nền kinh tế.
Trong quá trình quản lý nền kinh tế vĩ mô thì nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN. Hệ thống pháp luật, các công cụ kiểm soát tài chính, tiền tệ, quy hoạch trong nền KTTT luôn đóng vài trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra môi trường pháp ký và có ảnh hưởng đến việc điều chỉnh định hướng nền kinh tế. Bốn là, thể chế kinh tế góp phần hoàn thiện đồng bộ hoá các chủ thể trong hệ thống thị trường, cải thiện dần đồng thời thúc đầy phát triển hệ thống KTTT của nhà nước. Theo quan niệm hiện nay hệ thống thị trường đồng bộ bao gồm hai yêu tố chính sau đó là phải có đầu đủ các loại hình thị trường đầu vào (thi trường yếu tố) và thị trường đầu ra (thị trường sản phẩm).
Năm là, thể chế kinh tế góp phần tạo ra những rào cản hạn chế việc phát sinh, hạn ché cơ hội tạo ra các khiếm khuyết của thị trường. Kinh tế thị trường bên cạnh những mặt lợi ích mà nó mạng lại như tạo sự năng động, sáng tạo và tính hiệu quả thfi bên cạnh đó cũng có những mặt tiêu cực cần được loại bỏ hoặc kiềm chế như cạnh tranh và chính phủ, chạy theo lợi ích mạc dù làm hại đến lợi ích xã hội, gia tăng phân hóa giai cấp giàu nghèo trong xã hội. bằng việc thống qua các cơ chế của hệ thống pháp luật, chính sách xã hội (trích lược từ Cao Tấn Huy, 2019). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được OECD (1996) và IMF (1993) định nghĩa là một khoản đầu tư liên quan đến mối quan hệ lâu dài và phản ánh sự quan tâm và kiểm soát lâu dài của một thực thể cư trú trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác ngoài nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp liên kết hoặc chi nhánh nước ngoài). Dòng vốn FDI Nguồn vốn FDI (trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp liên quan khác) của một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đến một doanh nghiệp, hoặc vốn nhận được từ một doanh nghiệp đầu tư của một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. FDI có ba thành phần gồm vốn chủ sở hữu, thu nhập tái đầu tư và cho vay nội bộ công ty (theo UNCTAD, 2007), cụ thể như sau: - Vốn chủ sở hữu là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài mua cổ phiếu của một doanh nghiệp ở một quốc gia không phải là của mình. - Thu nhập được tái đầu tư bao gồm cổ phần của nhà đầu tư trực tiếp (chia theo tỷ lệ tham gia vốn cổ phần trực tiếp) của các khoản thu nhập không được chia theo cổ tức của các chi nhánh hoặc thu nhập không được chuyển đến chủ đầu tư trực tiếp.
Lợi nhuận giữ lại như vậy của các chi nhánh được tái đầu tư. - Các khoản vay nội bộ công ty hoặc giao dịch nợ nội bộ công ty đề cập đến việc vay ngắn hạn hoặc dài hạn và cho vay giữa các nhà đầu tư trực tiếp (doanh nghiệp mẹ) và doanh nghiệp liên kết. Các lý thuyết có liên quan 2. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Tiêu biểu cho trường phái tăng trưởng nội sinh là Romer và Lucas.