phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo…, luận văn đƣợc bố cục 5 chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI Trình bày các nội dung sau: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học và thực tiễn; Kết cấu đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Trình bày các nội dung sau: Các khái niệm có liên quan; Các lý thuyết nền tảng; Các nghiên cứu trƣớc đây: Nghiên cứu nƣớc ngoài, Nghiên cứu trong nƣớc. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Trình bày các nội dung sau: Các giả thiết nghiên cứu; Mô hình nghiên cứu và đo lƣờng các biến; Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày các nội dung sau: Phân tích thống kê mô tả; Phân tích tƣơng quan các biến; Kết quả nghiên cứu; Lựa chọn các phƣơng pháp ƣớc lƣợng; Kiểm định các vi phạm của mô hình. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Chƣơng 1 đã đƣa ra đƣợc nội dung cơ bản nhất trong luận văn. Với việc đặt ra các mục tiêu nghiên cứu để định hƣớng cho việc phân tích. Luận văn đã xác định r mục tiêu nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thƣơng mại của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017, thông qua việc nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ lệ an toàn vốn.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Các khái niệm liên quan tỷ lệ an toàn vốn: 2.1 Khái niệm tỷ lệ an toàn vốn: Tỷ lệ vốn tối thiểu là một thƣớc đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó đƣợc tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.2 Đo lƣờng tỷ lệ an toàn vốn: Tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động NHTM đƣợc đo lƣờng theo hiệp ƣớc Basel II nhƣ sau: CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100% - Vốn cấp 1 là một trong những thƣớc đo tỉ lệ đủ vốn của Ngân hàng, đó là tỉ lệ giữa vốn nòng cốt của ngân hàng với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất nhƣ: cổ phiếu thƣờng, cổ phiếu ƣu đãi không hoàn lại và không tích lũy, lợi nhuận giữ lại.
Khái niệm chung là nhƣ vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nƣớc lại có những quy định cụ thể riêng về nhƣng công cụ tài chính cụ thể nào có thể đƣợc tính vào vốn cấp 1. - Vốn cấp 2 bao gồm: lợi nhuận chƣa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ vàvốn, và các khoản nợ thứ cấp. - Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ đƣợc tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý (thƣờng là Ngân Hàng Trung Ƣơng) đƣa ra. Hầu hết các ngân hàng Trung ƣơng đều theo chuẩn BIS – Ngân hàng thanh toán quốc tế – để đặt ra những trọng số này.
Các tài sản nhƣ tiền mặt, tiền xu thƣờng có trọng số rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%. Nhìn chung cách tính CAR cơ bản là nhƣ vậy tuy nhiên tùy cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng của mỗi nƣớc có những quy định cụ thể riêng khi tính toán những công cụ tài chính vào hai loại vốn nêu trên. Tại Việt Nam, vốn cấp 1 và vốn 7 cấp 2 hiện nay đƣợc hƣớng d n và tính toán theo Thông tƣ 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của NHNN cụ thể nhƣ sau: - Vốn cấp I: + Vốn điều lệ (vốn đã đƣợc cấp, vốn đã góp); + Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ; + Quỹ đầu tƣ phát triển nghiệp vụ; + Lợi nhuận không chia; + Thặng dƣ cổ phần đƣợc tính vào vốn theo quy định của pháp luật, trừ đi phần dùng để mua cổ phiếu quỹ (nếu có); - Các khoản loại trừ khỏi vốn cấp I: + Lợi thế thƣơng mại; + Khoản lỗ kinh doanh, bao gồm các khoản lỗ lũy kế; + Các khoản góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng khác; + Các khoản góp vốn, mua cổ phần của cônng ty con, một số phần góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tƣ, dự án. - Vốn cấp II: có giá trị tối đa bằng 100% vốn cấp I, bao gồm các khoản mục sau: + 50% số dƣ có tài sản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật; + 40% số dƣ có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật; + Quỹ dự phòng tài chính; + Trái phiếu chuyển đổi do tổ chức tín dụng phát hành thỏa mãn một số điều kiện; + Các công cụ nợ ƣu tiên thấp thỏa mãn một số điều kiện; - Tổng tài sản Có rủi ro: là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng đƣợc xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tƣơng ứng với các cam kết ngoại bảng đƣợc xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tƣ 36/2014/TT-NHNN.3 Ý nghĩa của tỷ lệ an toàn vốn: Tỷ lệ an toàn vốn đƣợc sử dụng nhƣ một chỉ số để ngân hàng và nhà đầu tƣ nhận biết mức độ rủi ro của từng ngân hàng.
Tỉ lệ này thƣờng đƣợc dùng để bảo vệ những ngƣời gửi tiền trƣớc rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng nhƣ hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỉ lệ này ngƣời ta có thể xác định đƣợc khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành. Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo đƣợc tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những ngƣời gửi tiền. CAR là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Nếu nhƣ vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế. CAR là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. CAR còn là công cụ để thanh tra ngân hàng trung ƣơng thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là kiểm tra việc bảo đảm vốn thực có so với vốn đăng ký trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra quỹ dự phòng rủi ro có chấp hành theo quy định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM. Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về tỷ lệ vốn tối thiểu sẽ có thể rơi vào tính trạng mất khả năng thanh toán d n đến phá sản điều này có thể gây ra nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của cả quốc gia.
Dowd (1999) qua nghiên cứu của mình đã đƣa ra kết luận rẳng quy định vốn tối thiểu đƣợc xem là một phƣơng pháp làm cho hệ thống ngân hàng đƣợc ổn đinh, khoản tiền gửi đƣợc an toàn. Chính phủ nên can thiệp vào hoạt động ngân hàng bằng cách thiết lập quy định về vốn. Không chỉ những ngƣời ban hành quy định về vốn mà những ngƣời gửi tiền cũng quan tâm đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Vì vậy ngân hàng sẽ duy trì một mức vốn phù hợp để tối ƣu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng nhƣ đảm bảo tuân thủ quy định về vốn.
9 Sự an toàn về vốn là một yếu tố quan trọng trong kinh doanh và càng quan trọng hơn đối với ngân hàng khi sử dụng tiền của của ngƣời khác để kinh doanh. Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải có đủ vốn để có một tấm đệm an toàn, có khả năng chống đỡ đƣợc các tổn thất và cung cấp ngân quỹ cho những nhu cầu nội bộ hoặc mở rộng phát triển cũng nhƣ đảm bảo an toàn cho ngƣời gửi tiền và hệ thống bảo hiểm tiền gửi. Morrison và White (2005) cho rẳng những quy định về vốn là hữu dụng trong giới hạn quy mô ngân hàng để tránh những vấn đề rủi ro. Họ cũng đề nghị quy định về vốn có thể nới lỏng hơn trong các nền kinh tế mà báo cáo tài chính thể hiện đƣợc sự minh bạch.
Thực tế đã chứng minh sự sụp đổ của ngân hàng mang tính hệ thống, vì vậy vốn của mỗi ngân hàng không thể bị bào mòn, sụt giảm và điều đó trở thành một quy định mà phần lớn các quốc gia đều sử dụng đến quy định này để bảo vệ hệ thống tài chính kinh tế của nƣớc họ.2 Hiệp ƣớc Basel về tỷ lệ an toàn vốn: Hiệp ƣớc Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các ngân hàng thuộc các nhóm nƣớc G10 khởi xƣớng và đƣợc Ủy ban Quản lý ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1988, xuất phát từ những cuộc khủng hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trƣờng ngân hàng, mà đáng quan tâm nhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức thời điểm đó. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trƣờng, Basel đã đƣợc cải tiến sửa đổi lần 2 vào năm 2001 và có hiệu lực năm 2006. Ủy ban Basel bao gồm Thống đốc Ngân hàng trung ƣơng của nhóm G10 và một số nƣớc có hệ thống ngân hàng lớn mạnh hàng đầu thế giới bao gồm Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Italia, Nhật, Luxembua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ đã ký Hiệp ƣớc Basel, một cơ quan gọi là Hội đồng Basel về giám sát ngân hàng quốc tế cũng đƣợc thành lập để theo d i và chỉ đạo thực thi Hiệp ƣớc. Ngoài ra hệ thống ngân hàng của nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng đã biểu thị đồng thuận tham gia tuân thủ Hiệp ƣớc.