Phần mở đầu Chƣơng 1 tác giả đƣa ra lý do lựa chọn đề tài cho khóa luận, tổng quan một số nghiên cứu đi trƣớc và trình bày mục tiêu, câu hỏi, đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa cũng nhƣ bố cục của khóa luận. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình đề xuất Chƣơng 2 tổng hợp các nghiên cứu đi trƣớc cũng nhƣ cơ sở lý thuyết liên quan và xây dựng khung lý thuyết cho các yếu tố tác động đến thu nhập của ngƣời lao động. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 trình bày phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong khóa luận. Trong chƣơng này, tác giả cũng trình bày cụ thể về dữ liệu nghiên cứu, phƣơng pháp thu thập dữ liệu, phƣơng pháp hồi quy OLS đo lƣờng tác động của các yếu tố tác động đến thu nhập của ngƣời lao động.
Chƣơng 4: Thực trạng thu nhập của NLĐ Việt Nam Chƣơng 4 sẽ tổng quan thực trạng thu nhập của ngƣời lao động Việt Nam cũng nhƣ phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập từ đó đƣa ra đánh giá về thực trạng cũng nhƣ tác động của các yếu tố. Chƣơng 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng này thể hiện kết quả hồi quy OLS đánh giá tác động của các yếu tố đến thu nhập của ngƣời lao động và tác động của các yếu tố dƣới khía cạnh tiếp cận CNTT- TT thấp và cao. Chƣơng 6: Kết luận và đề xuất kiến nghị Chƣơng 6 tổng kết toàn bộ kết quả nghiên cứu và đƣa ra đề xuất kiến nghị để cải thiện hiệu quả của các yếu tố tác động đến thu nhập. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT 2.
Khái niệm về thu nhập Theo Tổng Cục Thống Kê, thu thập từ việc làm là khoản tiền công dƣới dạng tiền mặt hoặc hiện vật trả cho ngƣời làm công ăn lƣơng đối với thời gian hoặc công việc đã làm, cùng với khoản tiền trả cho thời gian không làm việc nhƣ nghỉ phép hoặc nghỉ hè hàng năm, nghỉ lễ hoặc các thời gian nghỉ khác đƣợc trả lƣơng, bao gồm cả khoản tiền công khác đƣợc nhận thƣờng xuyên có tính chất nhƣ lƣơng trƣớc khi ngƣời chủ khấu trừ [các khoản mà ngƣời chủ đã đóng cho ngƣời làm công ăn lƣơng nhƣ: thuế, đóng bảo hiểm xã hội, tiền đóng cho chế độ hƣu trí, phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội trả thay lƣơng (trả cho ngƣời lao động trong thời gian nghỉ việc vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động), phí đoàn thể và các khoản nghĩa vụ khác của ngƣời làm công ăn lƣơng]. Không tính vào thu nhập từ việc làm các khoản sau: tiền bảo hiểm xã hội và tiền cho chế độ hƣu trí mà ngƣời chủ đã đóng cho ngƣời làm công ăn lƣơng và những phúc lợi mà ngƣời làm công ăn lƣơng đã nhận đƣợc từ các khoản này, tiền chi trả cho kết thúc hợp đồng, các khoản phúc lợi không thƣờng xuyên (nhƣ tiền thƣởng cuối năm, tiền biếu,. Theo Samuelson và Nordhalls (2001), thu nhập là luồng tiền lƣơng, trả lãi, cổ tức và các nguồn khác mà các cá nhân hay một quốc gia nhận đƣợc trong một khoản thời gian nhất định. Theo Tống Quốc Bảo (2015), thu nhập của ngƣời lao động theo cách hiểu trong nghiên cứu này có nghĩa là tất cả các khoản tiền lƣơng mà doanh nghiệp, ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động căn cứ theo số lƣơng, chất lƣợng công việc họ đã thực hiện, bên cạnh lƣơng còn có các khoản tiền phụ cấp, các khoản tiền thƣởng,.
đƣợc tính chung vào thu nhập của ngƣời lao động. Trong khóa luận này, tác giả định nghĩa thu nhập của ngƣời lao động là các khoản tiền lƣơng cố định, tiền làm thêm giờ, tiền thƣởng, tiền phụ cấp nghề và tiền phúc lợi khác cho tất cả các công việc của ngƣời lao động. Lý thuyết phân phối thu nhập Lý thuyết phân phối thu nhập đƣợc đề cập bởi Adam Smith (1904) trình bày về thu nhập dƣới góc độ tiếp cận vi mô, thu nhập mang tính cá nhân và thể hiện qua bốn hình thái: tiền lƣơng (thu nhập ngƣời lao động), địa tô (thu nhập của đất đai), lợi tức (thu nhập của vốn), lợi nhuận (thu nhập của tƣ bản). Thu nhập của ngƣời lao động chính là dựa trên tiền lƣơng và bị tác động bởi các yếu tố nhƣ điều kiện lao động, công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp.
Các yếu tố này là những đặc điểm của ngƣời lao động và nghề nghiệp của họ, sự khác biệt của các yếu tố này tạo nên các mức thu nhập khác nhau. Lý thuyết phân phối thu nhập phân tích các đặc điểm, yếu tố tạo nên sự khác biệt thu nhập dẫn đến phân phối thu nhập trong xã hội. Qua đó cũng đã nêu lên đƣợc những yếu tố tác động đến thu nhập, vì vậy tác giả đề cập đến lý thuyết này làm cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu. Lý thuyết vốn nhân lực Lý thuyết vốn nhân lực xuất hiện khi các nhà kinh tế học thực hiện các nghiên cứu về vốn nhân lực nhƣ Mincer (1958), Schultz (1961) và Becker (1964).
Các tác giả cho rằng vốn con ngƣời tăng lên nhờ vào đầu tƣ vào giáo dục và đào tạo từ đó giúp ngƣời lao động tăng kỹ năng và kiến thức, góp phần tăng năng suất lao động, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập. Cụ thể: Mincer (1958) cho rằng trình độ học vấn, giáo dục làm tăng năng suất lao động từ đó tác động tích cực đến thu nhập NLĐ. Schultz (1961) chỉ ra rằng vốn nhân lực tác động đến tăng trƣởng thu nhập cá nhân, năng lực sản xuất của doanh nghiệp và tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc. Theo Becker (1964), đƣa ra nhận định tƣơng tự rằng đầu tƣ vào giáo dục, đào tạo giúp cải thiện kỹ năng và kiến thức tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển công việc, sự nghiệp.
Lý thuyết vốn nhân lực ngày càng phát triển hơn khi Westphalen (1999) bổ sung các yếu tố về phẩm chất, hành vi, năng lực cá nhân vào vốn con ngƣời. Alan & cộng 8 sự (2008) đề cập đến hình thức đào tạo chuyên nghiệp, đào tạo nghề sau khi chƣơng trình trung học. Kock và McGrath (1996) đã nêu lên rằng vốn con ngƣời sẽ giúp NLĐ nâng cao năng suất lao động, tăng khả năng tìm kiếm việc làm và tăng thu nhập cá nhân. Lý thuyết vốn nhân lực đã cung cấp những yếu tố từ vốn nhân lực có tác động đến thu nhập của NLĐ.
Từ đây có thể kết luận rằng lý thuyết vốn nhân lực là một cơ sở lý thuyết quan trọng, hình thành nên nền tảng của nghiên cứu này. Tổng quan các nghiên cứu đi trƣớc về các yếu tố tác động đến thu nhập của NLĐ Từ những nghiên cứu ban đầu về một số yếu tố tác động đến thu nhập của NLĐ, đến nay đã có rất nhiều các nghiên cứu đề cập đến đa dạng các yếu tố tác động đến thu nhập của NLĐ. Điển hình trong nghiên cứu của Bhattarai & Wisniewski (2002) xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của ngƣời lao động tại Vƣơng Quốc Anh bao gồm giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, khu vực địa lý. Trong nghiên cứu này, tác giả lƣợc khảo các nghiên cứu đi trƣớc đề cập đến các yếu tố tác động đến thu nhập từ đó hình thành khung lý thuyết nghiên cứu cho đề tài.
Giới tính Theo nghiên cứu của Bhatti (2013) cho thấy rằng tại Pakistan, lao động nam giới có mức thu nhập cao hơn nữ giới, trƣớc đó Bhattarai & Wisniewski (2002), Lixin Cai và Amy Y.C Liu (2015), Byung-Joo Lee và Mary J. Lee (2006) cũng đƣa ra quan điểm tƣơng tự và tại Việt Nam Tống Quốc Bảo (2015) cũng có cùng nhận định với hai nghiên cứu trên. Nhóm tuổi Độ tuổi ảnh hƣởng đến mức thu nhập của NLĐ, vì nó quyết định đến năng suất, hiệu quả và giá trị và NLĐ tạo ra. Trong nghiên cứu của Borjas (2013) đã kết luận rằng, NLĐ có mức thu nhập cao nhất ở độ tuổi trƣởng thành tuy nhiên đến giai đoạn 9 NLĐ trở nên già đi, năng suất lao động giảm do yếu tố sức khỏe thì mức thu nhập cùng giảm theo.
Trình độ học vấn Bhattarai & Wisniewski (2002) xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của ngƣời lao động tại Vƣơng Quốc Anh, trong đó trình độ giáo dục đƣợc kết luận trong nghiên cứu là yếu tố đem đến tác động tích cực cho mức thu nhập của NLĐ. Tại Việt Nam, nghiên cứu về ảnh hƣởng của vốn con ngƣời đến thu nhập của ngƣời lao động Việt Nam của Phạm Thị Lý và cộng sự (2021) cũng đƣa ra kết luận tƣơng tự. Khu vực địa lý Đỗ Thị Thu & cộng sự (2022) đã thực hiện nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thu nhập của lao động phi chính thức đã chỉ ra rằng thu nhập của ngƣời lao động tại khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn. Trong nghiên cứu của Bhattarai & Wisniewski (2002) và Biwei Su & Almas Heshmati (2013) cũng đƣa ra kết luận tƣơng tự.
Công nghệ thông tin và truyền thông Lucy Chennells và John Van Reenen (1999) nghiên cứu những tác động tiêu cực của công nghệ ảnh hƣởng đến ngƣời lao động có kỹ năng kém đã chứng minh rằng tiền lƣơng có xu hƣớng cao hơn và tăng nhanh hơn trong các ngành có cơ hội công nghệ cao hơn và đối với những NLĐ có trình độ học vấn cao hơn hoặc sử dụng máy tính nơi làm việc. Khu vực kinh tế The nghiên cứu của JA. Alvarez (2017) về chuyển đổi cơ cấu và khoảng cách tiền lƣơng trong lĩnh vực nông nghiệp đã đƣa ra nhận định rằng đặc điểm chính của nền kinh tế đang phát triển là tiền lƣơng ngành nông nghiệp thấp hơn so với các ngành khác. Thời gian làm việc Andrew Weiss (1995) nhận định rằng thời gian làm việc NLĐ tác động tích cực đến thu nhập của họ, vì nó giúp họ có những kiến thức mới thông qua công việc họ 10 đƣợc giao.
Đồng quan điểm với Andrew là Edward Lazear (1976) và Tống Quốc Bảo (2015). Khung phân tích và mô hình nghiên cứu đề xuất 2.1 Khung phân tích Hình 2. Khung phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của ngƣời lao động Việt Nam tự tác giả tổng hợp 2.