Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 2. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm Đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như kỹ năng quản lý, công nghệ, tiền,… từ nước này sang nước khác, từ khu vực này sang khu vực khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu.
Theo UNCTAD, FDI là khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ trong thời gian dài, phản ánh quyền kiểm soát và lợi ích của một thực thể ở một nền kinh tế (công ty mẹ nước ngoài hay nhà đầu tư nước ngoài). Theo IMF, họ quan niệm rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích là dành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó”. Khái niệm này nhấn mạnh đến tính lâu dài của quá trình đầu tư, chủ đầu tư là nhà đầu tư nước ngoài và việc đầu tư gắn liền với quyền kiểm soát quản lý.
Theo Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”, theo đó vốn FDI có thể được hiểu là hình thức các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Do đó, từ quan điểm đã nêu trên, vốn FDI có thể hiểu là hình thức nhà đầu tư nước ngoài dịch chuyển công nghệ, tiền, kỹ năng quản lý… từ nước này sang nước khác, từ khu vực này sang khu vực khác đồng thời nắm quyền điều hành, quản lý nhằm mục đích thu lợi ích kinh tế từ các nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm các đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn FDI không chỉ vốn được góp dưới hình thức đầu tư ban đầu được gọi vốn điều lệ hay vốn pháp định mà còn bao gồm vốn vay của các nhà đầu tư. Nguồn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vốn này thông thường được vay từ các công ty mẹ ở nước ngoài và sẽ được các công ty góp đầy đủ theo quy định nước sở tại nhằm mục đích mở rộng kinh doanh.
Thứ hai, vốn FDI là hình thức đầu tư trực tiếp của chủ đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này xuất phát hoàn toàn từ nước ngoài, không phải nguồn vốn nước sở tại đi vay do đó không tạo áp lực về nợ cho nước nhận đầu tư, đây là một trong những ưu điểm vượt trội so với các hình thức đầu tư khác từ nước ngoài. Thứ ba, các chủ đầu tư vốn FDI chính là chủ sở hữu vốn, và là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế, chủ đầu tư có quốc tịch là người nước ngoài, tiến hành đầu tư ở một nước khác vì vậy các nhà đầu tư nước ngoài này phải chấp hành luật pháp của nước được tiếp nhận đầu tư. Chủ sở hữu vốn đầu tư trực tiếp tham gia điều hành, quản lý quá trình sử dụng vốn, có quyền lợi và nghĩa vụ từ hoạt động sản xuất kinh doanh tương đương với phần vốn góp đó. Thứ tư, bên cạnh những lợi ích to, nguồn vốn FDI cũng mang lại những thách thức, khó khăn cho nước nhận đầu tư.
Mục đích các nhà đầu tư FDI luôn là đạt lợi nhuận tối đa từ việc đầu tư do đó họ quyết định quy mô, phương thức sử dụng nguồn vốn này theo hướng có lợi cho mình nhất gây ra những tổn thất, thiệt thòi cho nước sở tại. Thứ năm, thông thường vốn FDI là nguồn vốn dài hạn, do đó các nước nhận đầu tư có thể tận dụng lợi thế này trong việc phát triển kinh tế. Đi đôi với việc đầu tư vốn là việc xây dựng các nhà máy, công trình tại nước sở tại vì vậy thời gian góp sẽ dài và mang tính ổn định cao. Phân loại vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân chia theo nhiều tiêu chí, cụ thể: Thứ nhất, căn cứ vào quá trình tái sản xuất có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành đầu tư vào sản xuất, đầu tư vào cung ứng nguyên liệu, đầu tư vào tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu và triển khai.
Thứ hai, căn cứ vào tính chất pháp lý của đầu tư nước ngoài trực tiếp có thể chia đầu tư trực tiếp nước ngoài thành các loại hợp đồng và hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh. Bên cạnh đó còn có thêm hình thức đầu tư khác là hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT). Thứ ba, căn cứ vào tính chất đầu tư thì FDI được chia thành hai loại đầu tư phân tán và đầu tư tập trung trong khu chế xuất. Hai loại đầu tư trên đều có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp ở mỗi quốc gia.
Thứ tư, căn cứ vào lĩnh vực đầu tư thì chia FDI thành ba loại như đầu tư dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, các hình thức đầu tư vốn trực tiếp nước ngoài khá phong phú bao gồm: Doanh nghiệp liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation Contract); Doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài và các hình thức đầu tư vốn FDI khác. Doanh nghiệp liên doanh Là hình thức kinh doanh quốc tế. Các bên tham gia là những người có quốc tịch hoàn toàn khác nhau, một bên là đối tác nước ngoài và một bên là nhà đầu tư của nước sở tại.
Đặc điểm của hình thức này là tạo ra một doanh nghiệp mới theo pháp luật của nước sở tại, các bên tham gia cùng kết hợp với nhau trên cơ sở cùng góp vốn, quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, và cùng chia sẻ rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Co-operation Contract) Là hình thức liên doanh liên kết giữa một bên là các nhà đầu tư nước ngoài và một bên là đối tác tại nước sở tại trên cơ sở phân chia kết quả kinh doanh và quy định trách nhiệm giữa hai bên bằng các văn bản được ký kết mà không thành lập pháp nhân mới. Doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài Là loại hình doanh nghiệp mà các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ vốn để thành lập công ty và điều hành. Đặc điểm của loại hình này là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc sở hữu hoàn toàn của nước ngoài, có tư cách pháp nhân theo luật nước sở tại, chủ đầu tư nước ngoài tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các hình thức đầu tư vốn FDI khác BOT (Building Operate Transfer) Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Là hình thức đối tác công tư. Đây là loại hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.
Hợp đồng PPP có một số đặc điểm như là: một bên chủ thể ký hợp đồng là cơ quan nhà nước, hợp đồng liên quan đến hạ tầng và dịch vụ công. BTO (Building Transfer Operate) Là hình thức đầu tư ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi các công trình này được xây dựng xong thì nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình đó cho sở tại. Chính phủ sẽ cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
BT (Building Transfer) Là hình thức đầu tư được ký giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi các công trình này được xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại; Chính phủ sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư này thực hiện các dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc Chính phủ sẽ thanh toán cho các nhà đầu tư này theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Tác động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nền kinh tế 2. Tác động tích cực đến nền kinh tế Thứ nhất, giúp hội nhập kinh tế quốc tế và tăng cường các quan hệ đối ngoại với các quốc gia khác nhau, các tổ chức, các tập đoàn lớn trên thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Việc thu hút dòng tiền ngoại tệ đối với các nước đang phát triển để phát triển kinh tế là mục tiêu lớn.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần vô cùng quan trọng vào việc thúc đẩy xuất khẩu và trên thực tế đầu tư trược tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các nước đang phát triển, trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam tỷ lệ này chiếm hơn 50% và trong thời gian tới có xu hướng tăng khi nước ta hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Thêm vào đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn góp phần quan trọng trong việc đưa nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với kinh tế của thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm cho địa phương. Sự gia nhập các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một lượng lớn ngành nghề cũng như sự đa dạng của các ngành nghề cho nước sở tại đặc biệt là các nước đang phát triển.