Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa một số khái niệm như: chiến lược, sự tham gia và các yếu tố tác động đến sự tham gia của nhân viên. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu và các thước đo để thu thập dữ liệu. Ngoài ra, Chương 3 cũng nêu lên cách thức xử lý dữ liệu bao gồm: Đánh giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, độ giá trị (validity), và phân tích mô tả.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả về đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố, và phân tích mô tả để nhìn nhận về mặt thực tế các yếu tố tác động đến sự tham gia của nhân viên vào quá trình xây dựng chiến lược của Tổng Công ty 28. Chương 5: Kết luận và Giải pháp Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của nghiên cứu và trình bày đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn quản trị kinh doanh. Ngoài ra, phần kết luận cũng đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo từ nghiên cứu này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết được rút ra từ các tài liệu về quản lý chiến lược, sự tham gia và các yếu tố tác động đến sự tham gia của nhân viên và quá trình xây dựng chiến lược.
Từ cơ sở lý thuyết đó, đưa ra mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Khái niệm, phân loại và quy trình xây dựng chiến lược 2. Khái niệm chiến lược Chiến lược xuất hiện và được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau đó được vận dụng và trở nên phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý, với nhiều cách hiểu khác nhau. Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này (Chandler, 1962).
Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chủ yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cấu kết một cách chặt chẽ (Quinn, 1980). Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan (Johnson và Scholes, 1999). Theo đó, có các cách hiểu về chiến lược như sau: Chiến lược được hiểu là một hệ thống các biện pháp do các nhà quản lý cao cấp đề ra và thực thi nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Yusoff, 2008, trang 22). Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến tính hành động và thực tế của chiến lược.
Chiến lược là những biện pháp, hành động để đạt được mục tiêu của tổ chức. Thông qua chiến lược mà các mục tiêu của tổ chức được thực hiện. Nói cách khác yếu tố quan trọng trong khái niệm này là thiết lập hướng đi trong dài hạn, hệ thống các hành động cho phù hợp với hướng đi trong dài hạn để đạt được mục tiêu của tổ chức. Cũng tương đồng với quan niệm trên, Chandler (1962) cho rằng chiến lược còn được hiểu là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này.
Theo ông, chiến lược thực chất là một định hướng dài hạn trong tương lai với những hoạch định, chuẩn bị trước về nguồn lực nhằm hướng đến sự phát triển bền vững và lâu dài của công ty. Một cách tiếp cận khác về chiến lược là gắn chiến lược với môi trường cạnh tranh của tổ chức. Để có thể đạt được mục tiêu của tổ chức; doanh nghiệp, tổ chức đó phải phát huy thế mạnh của họ, hiểu rõ đối thủ cạnh tranh để có thể làm tốt hơn đối thủ của họ (Mintzberg 1994). Khái niệm này cho rằng chiến lược phải giúp doanh nghiệp xác định được những cơ hội trong môi trường để tiếp cận các nguồn lực và sức cạnh tranh cũng như giành ưu thế trong từng tình huống.
Theo đó, Johnson & Scholes (2002) đưa ra định nghĩa: “Chiến lược là định hướng và quy mô trong dài hạn của một tổ chức nhằm đạt được lợi thế trong môi trường thường xuyên biến động bằng cách xác định lại nguồn lực và năng lực cạnh tranh của tổ chức để đáp ứng mong đợi của các bên có liên quan”. Cách tiếp cận thứ ba về chiến lược là tách bạch hai khía cạnh của chiến lược là nội dung chiến lược và quy trình chiến lược (Yusoff 2008, trang 28). Về mặt nội dung, chiến lược trả lời cho câu hỏi “điều gì sẽ được thực hiện”. Chiến lược hướng tới việc đưa ra định hướng dài hạn, định vị tổ chức, xác định phạm vi của tổ chức, làm cho tổ chức phù hợp với môi trường và mở rộng phát triển.
Từ cách tiếp cận nội dung, chiến lược chủ yếu tập trung vào việc: (1) Kết nối giữa tổ chức và môi trường mà nó đang tồn tại trong đó; (2) Khai mở khả năng và nguồn lực của tổ chức; (3) Phát triển năng lực cạnh tranh và tính đặc thù của tổ chức để cung cấp các dịch vụ, sản phẩm tốt hơn (Yusoff 2008, trang 28). Về mặt quy trình, chiến lược trả lời cho câu hỏi “để thực hiện điều đó, cần tới quy trình nào”. Chiến lược tập trung vào việc phát huy, mở rộng cách thức ban hành, thực thi, kiểm soát của tổ chức; hướng tới “cách nào” để đạt được cái mà tổ chức muốn đạt được. Theo Porter (2013), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty.
Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau. Điểm cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cái chưa được làm”. Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do). Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages), chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất (unique activities).
Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt. Để có được chiến lược cũng như để tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có ba dạng định vị cơ bản. Định vị dựa trên sự đa dạng các hoạt động (varieties based): Đó là sự lựa chọn một hay một nhóm các hoạt động trong một ngành kinh doanh trên cơ sở phân đoạn các hoạt động kinh doanh. Định vị dựa trên nhu cầu (needs based): Đó là việc lựa chọn nhóm khách hàng có nhu cầu đồng nhất trên cơ sở phân đoạn thị trường.
Định vị dựa trên khả năng tiếp cận của khách hàng đối với một mặt hàng hay lĩnh vực kinh doanh (access based): Đó là cách định vị dựa trên tiêu chí vị trí địa lý hoặc khả năng thanh toán của khách hàng. Tóm lại, chiến lược là một công cụ giúp tổ chức xác định hướng đi lâu dài trong mối tương quan với môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của tổ chức. Mile và Snow (1984 dẫn theo Park 2015) cho rằng có ba loại chiến lược: chiến lược tự vệ, chiến lược tấn công và chiến lược phân tích. Chiến lược tự vệ ít quan tâm đến sản phẩm theo xu hướng thị trường (Park 2015, trang 37).
Những tổ chức theo dạng chiến lược này tập trung vào phát huy hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động điều hành đang vận hành hơn là tìm kiếm công nghệ, cách thức tổ chức và phương pháp vận hành mới. Ngược lại, chiến lược tấn công lại không ngừng tìm kiếm những sản phẩm mới cho thị trường và tạo ra sự thay đổi (Mile 1978 dẫn theo Park 2015). Những tổ chức này sử dụng sáng kiến, sáng tạo trong sản phẩm đến chiếm lĩnh lợi thế cạnh tranh so với các công ty, tổ chức khác. Chiến lược phân tích nằm ở giữa chiến lược phòng thủ và chiến lược tấn công.
Họ phản ứng hết sức nhanh nhạy một khi sản phẩm mới của một công ty nào đó tung ra thị trường. Nói cách khác, cải tiến là tiêu chí quan trọng để phân loại chiến lược. Trong ba loại chiến lược này, sự tham gia của nhân viên phù hợp và phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tốt nhất trong mô hình chiến lược tấn công. Bởi vì loại chiến lược này yêu cầu và tìm cách để nhân viên sáng tạo, cải tiến và phát kiến thông qua kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của họ.
Để làm được điều đó, nhân viên cần nhiều tự do và quyền lợi hơn trong các quyết định liên quan đến công việc mà họ đang đảm trách. Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng, chiến lược tốt là chiến lược mà tạo ra sự sáng tạo, phát huy hết kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của nhân viên vào sự phát triển của công ty. Chiến lược tốt phải tạo ra được môi trường thuận lợi cho sự tham gia, và ngược lại, sự tham gia đến lượt nó tạo ra một chiến lược tấn công hiệu quả. Chiến lược tốt của công ty được đo lường bởi hai câu hỏi giành cho nhà quản lý (Park 2015).
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến ba vấn đề quan trọng liên quan đến chiến lược của tổ chức mà Miles và Snow (1984, dẫn theo Park 2015) đã phát triển: (1) Công ty có thường phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ mới nhanh hơn, sớm hơn so với các đối thủ cạnh tranh, nhờ đó giữ vai trò dẫn đầu (leader) trong thị trường; (2) Công ty có phản ứng nhanh nhạy với sự dẫn đầu của công ty dẫn đầu và lựa chọn tham gia vào dòng sản phẩm, dịch vụ mới ngay sau khi xem xét tính khả thi của sản phẩm, dịch vụ đó; (3) Công ty không có chủ động, cố gắng phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ mới bởi vì nó đã hoàn toàn tồn tại ổn định trên thị trường. Ba tiêu chí đánh giá này được sử dụng rộng rãi và được xem là phù hợp (Park 2015).