Chương 1 trình bày tổng quan về đối tượng nghiên cứu, mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể cùng các câu hỏi nghiên cứu của đề tài về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức thông qua sự hài lòng trong công việc tại Công ty C. Đồng thời, tác giả cũng đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu được thực hiện, ý nghĩa của đề tài và bố cục của luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Formatted: Heading 1, Left, Indent: First line: 0 cm, Line spacing: single 2.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Khái niệm về sự hài lòng đối với công việc Formatted: Font color: Auto Locke (1969) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là trạng thái cảm xúc vui vẻ Formatted: Indent: First line: 1 cm hoặc tích cực do đánh giá kinh nghiệm của một người hoặc công việc. Trên cơ sở các định nghĩa này, có thể kết luận rằng sự hài lòng trong công việc là một tập hợp phức tạp của các biến số được điều chỉnh ở mức độ lớn bởi nhận thức và kỳ vọng của nhân viên.
Trong nghiên cứu này, sự hài lòng trong công việc được khái niệm là một thái độ tích cực hoặc một trạng thái cảm xúc vui vẻ là kết quả của những kinh nghiệm cụ thể liên quan đến công việc. Theo Hoppock (1935), sự hài lòng trong công việc là bất kỳ sự kết hợp nào của các hoàn cảnh tâm lý, sinh lý và môi trường khiến một người thành thật nói rằng tôi hài lòng với công việc của mình. Một mô tả như vậy chỉ ra sự đa dạng của các biến số ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc. Blum (1968) khái niệm sự hài lòng trong công việc là một thái độ là kết quả của việc cân bằng và tổng hợp nhiều điều thích và không thích cụ thể có liên quan đến công việc.
Vrom (1964) nhận xét rằng sự hài lòng trong công việc là định hướng tích cực của một cá nhân đối với tất cả các khía cạnh của tình huống công việc. Tóm lại, sự hài lòng là mức độ cảm xúc hay thái độ tích cực đối với công việc của nhân viên đó. Điều này có nghĩa khi một ai đó nói rằng họ hài lòng với công việc thì điều đó có nghĩa là họ thực sự yêu thích công việc của mình và đánh giá tốt công việc. Ngược lại, nếu họ không hài lòng thì họ sẽ có những biểu hiện tiêu cực và chán chường trong công việc, ảnh hưởng đến hiệu suất và sự phát triển chung của công ty.2 Khái niệm về sự gắn kết với tổ chức Formatted: Font color: Auto Formatted: Heading 3, Left, Line spacing: single Theo Porter, Steers, Mowday và Boulian (1974), gắn kết với tổ chức Formatted: Indent: First line: 1 cm (Organisational commitment) là sức mạnh tương đồng về sự đồng nhất của nhân viên với tổ chức và sự tham gia tích cực của nhân viên trong một tổ chức nhất định.
Kế thừa những nghiên cứu trước, Mowday, Porter và Steers (1982) tiếp tục nghiên cứu và xem xét gắn kết là sự đồng nhất và quan tâm của một cá nhân với tổ chức, điều này có thể được thể hiện bằng một niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận các giá trị, mục tiêu của tổ chức. Các khía cạnh này mô tả các cách khác nhau của sự phát triển cam kết với tổ chức và các tác động đối với hành vi của nhân viên. Họ định nghĩa sự gắn kết với doanh nghiệp (tổ chức) không chỉ là một dạng hành vi mà đó còn là dạng tâm lý mà biểu thị mối quan hệ của người lao động với doanh nghiệp, là sự liên kết mật thiết đến quyết định duy trì hay không việc là thành viên của một doanh nghiệp. Sự gắn kết là mối liên hệ gắn bó giữa cá nhân với tổ chức của mình và giữa nhân viên với nhau, trong đó một cá nhân gắn kết với tổ chức thường cảm thấy sự kết nối mật thiết của mình với tổ chức của họ, họ cảm thấy mình phù hợp với tổ chức đó, thấu hiểu mục tiêu của tổ chức.
Một nhân viên gắn kết sẽ làm việc hiệu quả và sáng tạo hơn, giúp hiệu suất công việc được nâng cao và làm giảm rủi ro trong công việc, góp phần tạo nên doanh thu lớn hơn cho doanh nghiệp.3 Mối quan hệ giữa sự hài lòng trong công việc với sự gắn kết với tổ chức Formatted: Font color: Auto Formatted: Heading 3, Left, Line spacing: single Sự hài lòng trong công việc và gắn kết với doanh nghiệp là hai khái niệm có mối Formatted: Font color: Auto tương quan cao. Mối quan hệ giữa hai yếu tố này có ý nghĩa theo dạng nguyên nhân – kết quả và cộng hưởng lẫn nhau. Cụ thể, một số nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ nguyên nhân – kết quả giữa gắn kết của nhân viên với tổ chức và sự hài lòng trong công việc là khi một người hài lòng với công việc thì họ sẽ có cảm giác gắn bó với doanh nghiệp của mình. Mặc dù yếu tố được coi là rất có quan hệ với nhau, chúng thể hiện được tương quan cả mặt tích cực và tiêu cực.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc làm hài lòng là một tiền đề quan trọng của gắn kết với doanh nghiệp. Một nghiên cứu khác của Al-Aameri (2000) đã chỉ ra rằng, khi người lao động hài lòng trong công việc họ có xu hướng năng động, tích cực hơn và tận tụy hơn với công việc của họ và gắn bó với công ty. Ngược lại, những người không hài lòng với công việc sẽ không gắn kết, thường xuyên vắng mặt cũng như khả năng nghỉ việc cao hơn. Tóm tại, hài lòng trong công việc phản ánh các phản ứng tình cảm ngay tới các công việc; trong khi sự gắn kết với doanh nghiệp vượt lên trên phạm vi các trạng thái cảm xúc tạm thời mà tập trung hơn vào tính cam kết của nhân viên.
Do đó, sự hài lòng công việc được coi là một trong những yếu tố quyết định sự gắn kết và ngược lại.2 Các lý thuyết liên quan Formatted: Left, Space Before: 2 pt 2.1 Lý thuyết thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow Formatted: Font color: Auto Formatted: Font color: Auto Năm 1954, Maslow xuất bản lần đầu tiên về động lực và tính cách, trong đó giới Formatted: Heading 3, Left, Line spacing: single thiệu lý thuyết của ông về cách mọi người thỏa mãn các nhu cầu cá nhân khác nhau trong bối cảnh công việc của họ. Dựa trên những quan sát của mình với tư cách là một nhà tâm lý học nhân văn, ông đã mặc nhiên công nhận rằng có một mô hình chung về sự công nhận và thỏa mãn nhu cầu mà mọi người nói chung tuân theo cùng một trình tự. Maslow giải thích nguồn gốc của hành vi con người xuất phát từ nhu cầu của con người. Chúng được sắp xếp theo hệ thống ưu tiên từ thấp đến cao với 5 bậc: Formatted: Indent: First line: 1 cm Hình 2.
Tháp nhu cầu Maslow ( Hình 2. Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: InternetNghiên cứu Maslow, 1954) Formatted: Indent: First line: 1 cm, Space After: 0 pt, Tab stops: Not at 16.5 cm Nhu cầu sinh lý còn người: Đây là nhu cầu thấp nhất nằm ở vị trí đáy của mô hình kim tự tháp. Ý nghĩa của tầng tháp này nói lên nhu cầu sinh lý của con người. Những nhu cầu này giúp cho đời sống của con người được cân bằng và duy trì.
Nếu nhu cầu này không được đáp ứng dẫn đến con người không còn sự sống nữa. Vậy, các nhu cầu đó là: thực phẩm, thức ăn hàng ngày, nước uống, không khí, ngủ, vận động. Nhu cẩu sinh lý của con người là quan trọng nhất. Dù bạn ở hoàn cảnh nào? Bất cứ hình thức nào? Bạn vẫn cần đáp ứng những nhu cầu này đầu tiên.
Do đó, nhu cầu sinh lý chính là cấp độ đầu tiên của thang nhu cầu Maslow. 9 Nhu cầu an toàn: Khi con người đã được đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh lý thì tất yếu họ sẽ đòi hỏi về sự an toàn của cuộc sống. Đây chính là cấp độ thứ 2 của tháp nhu cầu Maslow. Các nhu cầu về sự an toàn gồm: nhu cầu sức khỏe, nhu cầu thể chất, nhu cầu về tài chính, nhu cầu về công việc, nhu cầu về an ninh và tinh mạng.
Nhu cầu xã hội: Sau khi được đáp ứng nhu cầu cơ bản về sinh lý và an toàn, con người sẽ hướng tới những nhu cầu về đời sống xã hội hoặc các mối quan hệ tình cảm. Con người luôn muốn có một cuộc sống tốt đẹp chẳng hạn như: Có gia đình hạnh phúc? Có mối quan hệ bạn bè thân thiết? Luôn có tình yêu và được yêu? Nếu như con người không đáp ứng được những nhu cầu này, thì cuộc sống của họ sẽ trở nên cô đơn và buồn tẻ. Nhu cầu được tôn trọng: Khi mà con người sống trong một môi trường tập thể cần phải có sự tôn trọng. Điều này được thể hiện ở rất nhiều mặt như: sự tự trọng, sự tự tôn, sức mạnh của bản thân, năng lực, sự thành thạo, sự tự tin và sự độc lâp tự do.
Nhu cầu tự khẳng định: Đây chính là nhu cầu thứ 5 của tháp nhu cầu Maslow. Khi mà con người được đáp ứng đầy đủ 4 nhu cầu cấp độ trước đó. Lúc này họ sẽ tập trung vào phát triển bản thân mình. Từ đây họ sẽ nhận ra tiềm năng và khả năng của chính mình.
Họ muốn làm được và có được mọi thứ trong công việc cũng như trong lĩnh vực đang hướng đến và đầu tư. Từ đó, họ có khát vọng đứng đầu và luôn luôn hoàn thiện bản thân mình. Thuyết nhu cầu Maslow có một hàm ý quan trọng đối với các nhà quản trị muốn lãnh đạo nhân viên mình tốt thì cần phải hiểu nhân viên của mình đang ở cấp độ nào trong tháp nhu cầu. Từ đó sẽ giúp cho nhà quản trị đưa ra được giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng trong công việc của người lao động một cách tốt nhất.2 Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg Formatted: Font: Bold, Font color: Auto Formatted: Heading 3, Left, Line spacing: single Herzberg, Mausner và Snyderman (1959) công bố mô hình hai nhân tố của động lực làm việc và phát triển lý thuyết duy trì – động viên, lý thuyết này bị ảnh hưởng bởi hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow.
Herzberg đã tạo ra một mô hình hai chiều về các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ của mọi người đối với công việc.