chương 1 Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về sự chia sẻ kiến thức trong các lĩnh vực, thị trường khác nhau nhưng tại thị trường Việt Nam và trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm thì vẫn chưa có nghiên cứu về sự chia sẻ kiến thức của người lao động. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh càng gây gắt hiện nay, đòi hỏi các công ty sản xuất dược phẩm phải tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững từ lượng kiến thức của người lao động trong tổ chức, cụ thể hơn là người lao động tại phòng Nghiên cứu và Phát triển - một phòng ban có vai trò rất quan trọng trong các công ty sản xuất dược phẩm. Vì vậy, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự chia sẻ kiến thức của người lao động tại phòng Nghiên cứu và Phát triển của các công ty sản xuất dược phẩm là điều cần thiết. Đó là lý do lựa chọn đề tài này.
Đối tượng khảo sát của nghiên cứu là những người lao động (chức vụ từ nhân viên đến Trưởng phòng ban) đã ký hợp đồng lao động và đang làm việc tại phòng Nghiên cứu và Phát triển của các công ty sản xuất dược phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn với bố cục trình bày gồm 5 chương, mong muốn mang lại một số đóng góp như đã trình bày. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU Chương này trình bày tổng quan về bộ phận Nghiên cứu và Phát triển của các công ty sản xuất dược phẩm, các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm: sự chia sẻ kiến thức, các yếu tố ảnh hưởng đến sự chia sẻ kiến thức. Sau khi tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước có liên quan, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng và phát triển.
Tổng quan về bộ phận Nghiên cứu và Phát triển (R&D) dược phẩm 2. Nghiên cứu và Phát triển (R&D) Nghiên cứu và phát triển (R&D) là một thuật ngữ chung cho các hoạt động của các doanh nghiệp hay chính phủ có liên quan đến sự đổi mới. Nhiệm vụ của bộ phận Nghiên cứu và Phát triển là triển khai một sáng kiến khoa học kỹ thuật mới hoặc cải thiện những công nghệ hiện có trong tổ chức nhằm tăng cường vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Do đó, công việc của một nhân viên R&D không chỉ là sáng tạo ra các sản phẩm mới mà còn là nâng cao các sản phẩm đang có mặt trên thị trường như thay đổi thiết kế bao bì hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm.
Những thay đổi mang tính cấp thiết này cần phải thực hiện để doanh nghiệp tồn tại trước những yêu cầu khách quan như: sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của đối thủ hay thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng (Balachandra, 1997). Bộ phận R&D sẽ có ở các công ty chuyên môn hóa, tập trung vào một ngành nghề hoặc một lĩnh vực cụ thể nào đó, ví dụ các công ty truyền thông, kỹ thuật, công nghệ hay sản xuất dược phẩm. Trong bối cảnh thương mại, "Nghiên cứu và Phát triển" thường dùng để chỉ các hoạt động dài hạn trong tương lai theo định hướng khoa học, công nghệ, sử dụng kỹ thuật. Tương tự như nghiên cứu khoa học, nhưng R&D hướng về những kết quả mong muốn theo kết quả nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu và Phát triển dược phẩm Giống như những ngành khoa học khác, Nghiên cứu và Phát triển trong dược phẩm là một công tác liên quan đến việc tìm hiểu sâu sắc một vấn đề và tìm cách để giải quyết hay thực hiện vấn đề đó. Vấn đề của R&D dược phẩm là những vấn đề có liên quan đến chăm sóc sức khỏe. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều vấn đề của ngành dược phẩm chưa được giải quyết, một số liên quan đến việc phát hiện và ngăn ngừa bệnh tật và số còn lại liên quan đến việc điều trị các bệnh hiểm nghèo. Có hai hướng chính để phát triển R&D dược phẩm.
Một là nghiên cứu và sản xuất ra các loại thuốc mới (hay còn gọi là thuốc gốc), là loại hoạt chất đầu tiên để điều trị loại bệnh nào đó, ví dụ như thuốc điều trị HIV, AIDS. Hai là nghiên cứu và sản xuất ra các loại thuốc tương đồng (hay còn gọi là thuốc generic) với tác dụng sinh học tương đương thuốc gốc nhưng giá thành hợp lý hơn để chăm sóc sức khỏe cho đối tượng bệnh nhân ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp hơn (Steven, 2010). R&D dược phẩm bao gồm 2 bước: Nghiên cứu (R) và Phát triển (D). − Nghiên cứu: gồm các công việc + Sàng lọc, tìm kiếm chất hóa học, chiết xuất dược liệu, khoáng vật,…mới có tác dụng điều trị bệnh.
+ Thử nghiệm độ an toàn của hoạt chất. + Nghiên cứu tá dược phù hợp − Phát triển: phát triển dạng bào chế của thuốc (viên nang, viên nén, thuốc nước,…), nghiên cứu tác dụng sinh học, nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng, nghiên cứu quy trình sản xuất quy mô công nghiệp. Nhân viên bộ phận Nghiên cứu và Phát triển thường bao gồm các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học. Các nhà nghiên cứu đóng vai trò tìm hiểu và cung cấp kiến thức để có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề cần giải quyết.
Tiếp theo đó, các nhà khoa học dựa vào các thông tin đã được cung cấp để nỗ lực tìm kiếm ra một giải pháp. Công việc của các nhà khoa học thường liên quan đến kỹ thuật cũng như các thử nghiệm cận lâm sàng, lâm sàng. 9 Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Dược (2015), đến tháng 12/2015, tổng số công ty sản xuất dược phẩm (có bộ phận R&D) tại Việt Nam là 176, trong đó có 28 công ty đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Sự chia sẻ kiến thức Theo Alavi và Leidner (2001), kiến thức là sản phẩm của thông tin.
Khi thông tin được phân tích, xử lý và đưa vào một bối cảnh cụ thể thì nó trở thành kiến thức. Một số nhà nghiên cứu cho rằng kiến thức có nhiều giá trị hơn dữ liệu và thông tin bởi vì nó gần với hành động hơn (Cheng, 2000). Dựa trên nghiên cứu của Polanyi (1966), Nonaka và Takeuchi (1995) đã đưa ra sự phân biệt giữa kiến thức hiện và kiến thức ngầm. Theo đó, kiến thức hiện được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu hoặc báo cáo; dạng kiến thức này có thể được diễn đạt bằng ngôn ngữ hình thức và dễ dàng trao đổi giữa các cá nhân.
Mặt khác, kiến thức ngầm không thể hoặc rất khó được hệ thống hóa trong các văn bản, tài liệu; dạng kiến thức này thể hiện trong kinh nghiệm của từng cá nhân, gắn liền với bối cảnh và công việc cụ thể, khó trao đổi hay chia sẻ với người khác. Bất kỳ tổ chức nào cũng tồn tại hai dạng kiến thức trên và việc chia sẻ kiến thức có thể khắc phục sự khác biệt giữa kiến thức hiện và kiến thức ẩn. Sự chia sẻ kiến thức là một khái niệm khá quen thuộc đối với các tổ chức, công ty trên thế giới. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn còn khá mới mẻ đối với các công ty tại Việt Nam.
Mặc dù, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự chia sẻ kiến thức (Alam và ctg, 2009; Boon – In và ctg, 2010; Davenport và Prusak, 1998; Khanmohammadi, 2014; Lee và Al-Hawamdeh, 2002; Yang và Chen, 2007; Zubair và ctg, 2014) nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này. Do đó, để hiểu rõ thế nào là sự chia sẻ kiến thức, đề tài sẽ xem xét một số khái niệm về sự chia sẻ kiến thức đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra. Theo Davenport và Prusak (1998), sự chia sẻ kiến thức là một trong những quy trình quản lý kiến thức nhằm truyền tải kiến thức từ một người sang người khác trong tổ chức. Sự truyền tải này có thể thực hiện giữa các cá nhân, từ một cá nhân đến một nhóm, bên trong một nhóm, giữa các nhóm, khối và phòng ban để cùng giúp nhau hoàn thành công việc trong tổ chức.
10 Lee và Al-Hawamdeh (2002) cho rằng sự chia sẻ kiến thức là hành động có cân nhắc nhằm cho phép kiến thức của một người được người khác sử dụng lại. Đây có thể được xem như sự tình nguyện phổ biến những kỹ năng và kiến thức cho các cá nhân trong công ty (Wang và Noe, 2010). Điều này rất quan trọng vì kiến thức của một người không đủ ảnh hưởng đến công ty trừ khi nó được trang bị cho tất cả thành viên. Bằng việc chia sẻ kiến thức, công ty đã tạo ra lợi thế cạnh tranh và nâng cao hiệu quả công việc (Yang, 2007).
Theo Boon – In và ctg (2010), sự chia sẻ kiến thức là một hoạt động phổ biến thông tin, giá trị và ý tưởng cho các bên liên quan để tạo ra kiến thức mà các bên liên quan có thể hiểu và sử dụng được. Ngoài ra, Moller và Svahn (2004) nhấn mạnh rằng sự chia sẻ kiến thức không chỉ là chia sẻ thông tin được hệ thống hóa (như mô tả sản phẩm, mô tả quy trình sản xuất, vận chuyển…) mà còn chia sẻ niềm tin, kinh nghiệm và thói quen trong tổ chức (như quy trình công việc…). Kết hợp quan điểm của Boon – In và ctg (2010) và của một số tác giả khác, định nghĩa về sự chia sẻ kiến thức được sử dụng trong đề tài này như sau: “Sự chia sẻ kiến thức là một quy trình trong quản lý kiến thức nhằm truyền tải kiến thức hiện và kiến thức ngầm của một người cho các bên liên quan để tạo ra kiến thức mới mà các bên liên quan có thể hiểu và sử dụng được, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh của tổ chức và nâng cao hiệu quả công việc”. Tuy trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về sự chia sẻ kiến thức nhưng tại Việt Nam và trong lĩnh vực sản xuất dược phẩm vẫn chưa có nhiều nghiên cứu sâu về các yếu ảnh hưởng đến sự chia sẻ kiến thức của người lao động.
Do đó, để có thể xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh của lĩnh vực sản xuất dược phẩm, cụ thể là các công ty sản xuất dược phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì đề tài này cần tham khảo thêm một vài nghiên cứu khác có liên quan.