Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi ngh iên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài và bố cục của nghiên cứu. Lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng cuộc sống công việc và kết quả làm việc cá nhân. Chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng cuộc sống công việc và kết quả làm việc cá nhân, đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, mô tả phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh và xây dựng thang đo các LVTS Quản trị kinh doanh thành phần trong mô hình nghiên cứu để thu thập dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả phân tích dữ liệu gồm thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy các thang đo, phân tích nhân tố khám phá, mô hình hồi quy ảnh hưởng của chất lượng cuộc sống công việc và kết quả làm việc cá nhân của nhân viên tại công ty TNHH MTV cao su Chưmomray, kiểm định các vi phạm hồi quy và giả thuyết nghiên cứu. Kết luận và một số hàm ý Trình bày một số hàm ý nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống công việc để hướng đến nâng cao kết quả làm việc cá nhân. Chương này cũng trình bày kết luận về kết quả nghiên cứu, những hạn chế nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Tên đề tài LVThS: Ảnh h ởng của chất l ợng cuộc sống c ng việc ến kết quả làm việc của nhân viên t i c ng ty TNHH MTV cao su Ch momray. 7 CHƢƠNG 2 LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này sẽ giới thiệu những nội dung cơ bản về lý thuyết chất lượng cuộc sống công việc, kết quả làm việc của nhân viên và tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng chất lượng cuộc sống công việc đến kết quả làm việc của nhân viên. Nội dung trong chương này tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và các nghiên cứu trong nước về mối liên hệ giữa chất lượng cuộc sống công việc và kết quả làm việc của nhân viên. Từ các lý thuyết trên đưa ra mô hình tác động của các thành phần chất lượng cuộc sống công việc đến sự gắn kết của nhân viên với tổ chức.
Chương này bao gồm 02 phần: (1) các cơ sở lý thuyết bao gồm: Các khái niệm cơ bản và các nghiên cứu có liên quan; (2) Mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chất lƣợng cuộc sống công việc (QWL) LVTS QWL là một Quản khái niệm phứctrị tạp, đakinh doanh 2. Khái niệm về QWL chiều và trừu tượng (Hsu và Kernohan, 2006). Nó là một thuật ngữ thuộc khoa học hành vi, được định nghĩa theo nhiều góc nhìn khác nhau.
Trong suốt hơn 30 năm gần đây, QWL được xem là một biến, một cách tiếp cận, một loạt các phương pháp, có khi được xét theo góc độ là một cuộc vận động và cũng có nhiều định nghĩa cho là tất cả mọi thứ, hay cũng có lúc được nhìn dưới góc độ là một vấn đề đạo đức (Seyed và Fatemeh, 2011). Với góc nhìn khác nhau, QWL được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Một số nhà nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa môi trường làm việc và kết quả làm việc, một số khác tập trung vào các chế độ đãi ngộ (Huzzard, 2003; dẫn theo Duyan và Akyildiz, 2013). Theo Boisvert, 1977 (dẫn theo Martel và Dupuis, 2006) định nghĩa QWL là một nhóm các kết quả có ảnh hưởng tốt đến đời sống nơi làm việc đối với từng cá nhân, tổ chức và xã hội.
Carlson, 1980 (dẫn theo Martel và Dupuis, 2006) lại định nghĩa QWL là cả mục tiêu và quá trình thực hiện liên tục để đạt được mục tiêu. Khi là mục tiêu, QWL là sự cam kết của tổ chức để cải thiện công việc: tạo ra sự thu hút, sự thỏa mãn, Tên đề tài LVThS: Ảnh h ởng của chất l ợng cuộc sống c ng việc ến kết quả làm việc của nhân viên t i c ng ty TNHH MTV cao su Ch momray. 8 công việc hiệu quả và môi trường làm việc cho mọi người ở mọi cấp bậc của tổ chức. Khi là quá trình, QWL kêu gọi những nỗ lực để thực hiện mục tiêu này thông qua sự tham gia tích cực của mọi người trong tổ chức.
Theo Beukema, 1987 (dẫn theo Martel và Dupuis, 2006), QWL được cho là một mức độ cho phép nhân viên có thể sắp đặt công việc một cách chủ động, phù hợp với sự chọn lựa, sự quan tâm và nhu cầu. Nó là mức độ quyền lực mà một tổ chức trao cho nhân viên của họ để thực hiện công việc. Định nghĩa này nhấn mạnh đến chọn lựa của nhân viên về sự hứng thú trong khi thực hiện công việc. Theo Robbins, 1989 (dẫn theo Duyan và Akyildiz) định nghĩa QWL là quá trình mà tổ chức đáp lại nhu cầu của người lao động bằng việc phát triển thể chế để cho phép người lao động được quyền lên tiếng trong những quyết định về cuộc sống tại nơi làm việc của họ.
Bên cạnh đó, QWL còn được định nghĩa là “công việc tốt hơn là cách thức cân bằng trong cách kết hợp giữa cuộc sống nơi làm việc và cuộc sống cá nhân”. Nó có LVTS Quản trị kinh doanh liên đới đến sự thỏa mãn công việc, sự cam kết, động viên, năng suất, an toàn và sức khỏe; ổn định công việc, phát triển cạnh tranh và cân bằng giữa cuộc sống công việc và ngoài công việc (European Foundation for the Improvement of Living and Working Conditions, 2002; Rethinam và Ismail, 2008). Theo một định nghĩa khác, QWL là những điều kiện thuận lợi mà môi trường của nơi làm việc hỗ trợ và làm tăng mức độ thỏa mãn của người lao động bằng cách cung cấp cho người lao động lương thưởng, công việc ổn định và cơ hội phát triển (Lau và các cộng sự, 1998). Efraty và Sirgy (2001) đề xuất QWL là sự hài lòng của nhân viên với những nhu cầu cá nhân thông qua các nguồn lực, hoạt động và kết quả xuất phát từ sự tham gia tại nơi làm việc.
Còn Luthans (2005) xem QWL là một nỗ lực để phát triển điều kiện làm việc thêm thỏa mãn thông qua nỗ lực cộng tác giữa cấp quản lý và nhân viên. Theo góc nhìn của Mesut, 2006 (dẫn theo Malini và Debosmita, 2012), QWL được định nghĩa là một phương pháp hay một cách tiếp cận bằng cách dùng những kỹ thuật đặc biệt để cải thiện và hỗ trợ công việc cho người lao động. QWL là cách nhìn Tên đề tài LVThS: Ảnh h ởng của chất l ợng cuộc sống c ng việc ến kết quả làm việc của nhân viên t i c ng ty TNHH MTV cao su Ch momray. 9 của cá nhân người lao động với công việc của họ, cụ thể là phương cách nhà lãnh đạo tạo ra cho nhân viên của mình sự tự tin, sự cảm kích, sự chi phối công việc và cơ hội phát triển thích hợp (cả cụ thể lẫn trừu tượng) trong môi trường làm việc như thế nào.
Tiếp theo các định nghĩa trước, định nghĩa về QWL của Serey (2006) được xem là khá thuyết phục và đáp ứng tốt nhất các điều kiện làm việc tạm thời. Định nghĩa này liên quan đến một công việc có ý nghĩa và đáp ứng sự hài lòng của nhân viên. Nó bao gồm cơ hội để thực hành năng lực và tài năng của cá nhân, đối mặt với thử thách và tình huống yêu cầu sự độc lập và tự định hướng, một hoạt động được cho là trở nên có giá trị khi cá nhân tham gia vào hoạt động đó, hoạt động mà từng cá nhân hiểu được vai trò của mình trong việc giành được mục tiêu chung khi tiến hành hoạt động đó, và cảm nhận tự hào khi đang thực hiện và thực hiện tốt công việc. Từ các định nghĩa đã nêu ở trên, có thể hiểu rằng QWL là những điều kiện thuận lợi và môi trường tại nơi làm việc đã hỗ trợ và làm tăng mức độ thỏa mãn của người lao động bằng cách cung cấp cho họ những lợi ích kinh tế, sự ổn định, điều kiện LVTS Quản trị kinh doanh làm việc, mối quan hệ giữa cá nhân tổ chức, những giá trị của cá nhân trong công việc.
QWL còn là một phần của chất lượng cuộc sống, bao gồm cảm giác của cá nhân về từng phương diện của công việc và mức ảnh hưởng của những yếu tố này đến cuộc sống cá nhân tại nơi làm việc. Bởi vậy, có thể nói QWL cần quan tâm đến không chỉ là cải thiện cuộc sống nơi làm việc, mà còn cuộc sống bên ngoài công việc của nhân viên để nhân viên có thể cân bằng được công việc và cuộc sống. Sự khác biệt giữa QWL và sự hài lòng trong công việc Mặc dù không có định nghĩa nhất quán về QWL nhưng các nhà tâm lý học và các học giả đồng ý chung rằng QWL là một cấu trúc có quan hệ với các phúc lợi của nhân viên và QWL khác với sự hài lòng trong công việc (Champoux, 1981; Davis và Cherns, 1975; Efraty và Sirgy, 1988; Hackman và Oldham, 1976; Kabanoff, 1980; Kahn, 1981; Quinn và Staines, 1974; Staines, 1980; Lawler, 1982). Vì sự hài lòng trong công việc là khái niệm chỉ mang tính đại diện cho phạm vi liên quan đến nơi làm việc.
Sự hài lòng trong công việc là sự lấp đầy những yêu cầu của một cá nhân theo hướng liên quan đến môi trường làm việc (Lofquist và Dawis, 1969; dẫn theo Behzad Tên đề tài LVThS: Ảnh h ởng của chất l ợng cuộc sống c ng việc ến kết quả làm việc của nhân viên t i c ng ty TNHH MTV cao su Ch momray. 10 và các cộng sự) hay được cho rằng là cảm giác của một người về công việc của họ (Smith và cộng sự, 1983; dẫn theo Behzad và các cộng sự). Smith và các cộng sự, 1983 (dẫn theo Behzad và các cộng sự) cũng chỉ ra 5 thành phần của sự hài lòng trong công việc là công việc, trả công lao động, sự thăng tiến, sự giám sát và đồng nghiệp. Trong khi, QWL là một khái niệm toàn diện, trong đó không chỉ xem xét các yếu tố dựa trên làm việc như sự hài lòng của công việc với mức lương và các mối quan hệ với các đồng nghiệp làm việc, mà còn bao gồm các yếu tố ảnh hưởng sự hài lòng với cuộc sống và những cảm xúc chung về phúc lợi (Danna và Griffin, 1999; dẫn theo Shalini và các cộng sự, 2012).