chương 1, tác giả đã trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và cấu trúc bố cục của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả trình bày những nguyên tắc lý luận có liên quan làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá các nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng đề xuất mô hình nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại ngân hàng. Tổng quan cơ sở lý thuyết 2.
Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuẩn với nguyên tắc có hoàn trả cả nợ gốc và lãi”. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân của NHTM Căn cứ vào thời hạn cho vay Hình 2. Các hình thức cho vay theo thời hạn Nguồn: Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc (2013) 6 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Cho vay sản xuất kinh doanh: là khoản vay mà số tiền vay được sử dụng để tăng cường vốn mua sắm, xây dựng tài sản cố định nhằm phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp. Cho vay sinh hoạt tiêu dùng: là khoản vay mà số tiền vay được sử dụng để mua sắm các vật dụng tiêu dùng, xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở, và đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt khác.
Căn cứ vào phương thức vay Cho vay từng lần: là phương thức vay vốn mà mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng phải hoàn tất tất cả các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức: là phương thức vay vốn mà ngân hàng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tư: là phương thức vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: là phương thức vay vốn mà nhiều ngân hàng cùng cung cấp vốn cho một nhu cầu vốn của một khách hàng, với một ngân hàng làm đầu mối.
Cho vay trả góp: là phương thức vay vốn mà lãi vay cộng với nợ gốc được chia ra để trả theo nhiều kỳ hạn trong thời gian vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: là phương thức vay vốn mà ngân hàng cam kết sẵn sàng cho khách hàng vay trong phạm vi hạn mức nhất định, với thỏa thuận về thời hạn hiệu lực và mức phí. Cho vay thông qua thẻ tín dụng: là phương thức vay vốn mà ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng vốn vay trong hạn mức tín dụng để thanh toán mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt. Cho vay theo hạn mức thấu chi: là phương thức vay vốn mà ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của mình.
7 Căn cứ vào hình thức đảm bảo nợ vay Cho vay tín chấp: là hình thức vay vốn mà khách hàng không cần cung cấp tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, chỉ dựa vào uy tín của chính họ hoặc sự bảo lãnh tín dụng. Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức vay vốn mà khách hàng phải sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng, hoặc quyền quản lý của mình để đảm bảo khoản vay thông qua việc thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reason Action) là một mô hình lý thuyết trong lĩnh vực tâm lý học xã hội được phát triển bởi Icek Ajzen và Martin Fishbein. Lý thuyết này cho thấy hành vi của một cá nhân được hình thành bởi thái độ và chuẩn mực chủ quan của cá nhân và bị ảnh hưởng bởi niềm tin của cá nhân cũng như nhận thức của người khác.
Thái độ cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực của một cá nhân đối với việc thực hiện một hành vi cụ thể. Thái độ này thường được xác định bởi niềm tin của cá nhân về kết quả của hành vi và đánh giá của họ về những kết quả đó. Chuẩn mực chủ quan là sự nhận thức của cá nhân về áp lực xã hội đối với việc thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Chuẩn mực chủ quan thường bao gồm niềm tin về việc những người quan trọng đối với cá nhân (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp) nghĩ gì về hành vi đó.
Một điểm mạnh khác của TRA là khả năng dự đoán hành vi. Lý thuyết này dự đoán rằng các cá nhân sẽ hành động theo cách phù hợp với thái độ và chuẩn mực chủ quan của họ. Do đó, nếu thái độ của một cá nhân đối với một hành vi là tích cực thì họ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó hơn và nếu chuẩn mực chủ quan của một cá nhân là tiêu cực thì họ sẽ ít có khả năng thực hiện hành vi đó. Mô hình thuyết hành động hợp lý - TRA (Nguồn: Fishbein, M.
Thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là một sự phát triển dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (TRA) điều khác biệt ở đây là sự bổ sung thêm khái niệm về kiểm soát hành vi nhận thức, giúp dự đoán và giải thích tốt hơn hành vi của con người. Nhận thức kiểm soát hành vi bao gồm khả năng nhận thức và sự tự tin của cá nhân trong việc kiểm soát hành vi của họ trong các tình huống khác nhau. TPB cho rằng ý định của cá nhân là yếu tố quan trọng nhất trong việc dự đoán hành vi của họ. Ý định hành vi là sự kết hợp của thái độ đối với hành vi, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức.
Nếu cá nhân có ý định rõ ràng để thực hiện một hành vi và cảm thấy có khả năng kiểm soát hành vi của mình thì họ sẽ có nhiều khả năng thực hiện hành vi đó hơn. Mô hình thuyết hành vi hoạch định (Nguồn: Ajzen, 1991) 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model -TAM) Mô hình Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM) là một lý thuyết được phát triển bởi Fred Davis vào năm 1989 giúp giải thích cách người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ mới dựa trên hai yếu tố chủ yếu là Cảm nhận về tính hữu ích (Perceived Usefulness - PU) và Cảm nhận về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use - PEOU). Mô hình này chỉ ra rằng nếu người dùng nhận thấy công nghệ có ích và dễ sử dụng, họ sẽ có ý định sử dụng cao và sử dụng thực tế công nghệ đó.
TAM đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu hành vi người dùng và phát triển công nghệ để người dùng có thể trải nghiệm và quyết định sử dụng công nghệ. Mô hình chấp nhận công nghệ (Nguồn: Fred Davis (1986)) 2. Các nghiên cứu có liên quan Theo Christos C. Frangos và cộng sự (2012) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của khách hàng đối với vay vốn ngân hàng: Trường hợp khách hàng Hy Lạp”.
Trong nghiên cứu này, tác giả thu thập dữ liệu bằng cách chọn ngẫu nhiên 277 công dân Hy Lạp để kiểm tra các giả thuyết. Kết quả hồi quy logistic cho thấy, các yếu tố nhân khẩu học, chất lượng dịch vụ, chính sách cho vay, sự hài lòng từ dịch vụ của ngân hàng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng nhất. Theo Martin Owusu Ansa (2014) nghiên cứu “Các yếu tố quyết định lựa chọn ngân hàng ở Ghana: Áp dụng phân tích giáo viên trung học tại TP. Kumasi", nghiên cứu đã sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện, thực hiện khảo sát thông qua bảng câu hỏi của 250 giáo viên tại các trường trung học phổ thông khác nhau ở thủ đô Gahna.
Phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS với phương pháp phân tích nhân tố khám phá và phân tích mô hình hồi quy. Nghiên cứu đã xác định sáu yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng của giáo viên trung học ở thủ đô Kumasi đó là: lãi suất tín dụng, danh tiếng ngân hàng, tính an toàn của ngân hàng, dễ dàng vay vốn, sự tồn tại lâu đời của ngân hàng và phí dịch vụ thấp. 11 Theo Hoàng Hải Yến (2018) “Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng để giao dịch của các khách hàng cá nhân trên địa bàn tỉnh Bình Phước”. Dữ liệu được thu thập ngẫu nhiên của 300 khách hàng cá nhân trên địa bàn tỉnh Bình Phước bao gồm các yếu tố như sau: Thương hiệu ngân hàng, Chất lượng dịch vụ, Sự thuận tiện, Lợi ích tài chính, Thái độ của nhân viên và Hoạt động chiêu thị.
Theo Hồ Ngọc Khoa (2018) “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng giao dịch của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Tây Ninh”. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích định lượng, kết quả cho thấy các nhân tố quyết định đến việc lựa chọn ngân hàng của KHCN trên địa bàn tỉnh Tây Ninh lần lượt là: Sự thuận tiện, Hình ảnh ngân hàng, Lãi suất tín dụng, Sản phẩm dịch vụ và Hoạt động tiếp thị. Theo Kattel và Shah (2020) nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại ở Nepal”. Tác gỉa đã thực hiện khảo sát thông qua bảng câu hỏi trên 150 khách hàng có tài khoản tại các ngân hàng thương mại khác nhau.
Các phương pháp đã được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp phân tích hệ số tương quan và phương pháp phân tích mô hình hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng đối với ngân hàng thương mại ở Nepal là : danh tiếng, chất lượng dịch vụ, lợi ích tài chính, sự thuận tiện, ảnh hưởng của nhóm, tính sẵn có của thông tin và cơ sở vật chất. Trong đó, danh tiếng, chất lượng dịch vụ và lợi ích tài chính có ảnh hưởng mạnh nhất. Theo Bùi Văn Thụy, Vũ Bùi Quang Chiến, Nguyễn Khánh Ly (2021) “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Đông Đồng Nai”.