Mở đầu Nêu ra tính cấp thiết của dé tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Tổng quan Giới thiệu sơ lược về địa bàn nghiên cứu và tình hình dân cư tại địa phương. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu bao gồm giới thiệu về đặc điểm của hồ tiêu, tình hình ngành hồ tiêu thế giới và Việt Nam. Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Nêu các lý thuyết liên quan làm cơ sở để giải thích nội dung nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu để tiễn hành nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Đây là phần chính của đề tài nhằm nêu ra kết quả nghiên cứu, làm rõ vấn đề nghiên cứu, bằng các phương pháp đã học và lựa chon dé nghiên cứu. Trinh bày các đặc điểm của nông hộ điều tra như quy mô nhân khâu. kinh nghiệm, cách canh tác, cách tiếp cận và sử dụng khoa học kỹ thuật dé tổng hợp phân tích và xử lý thông tin. Đánh giá nhận thức của người dân về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất hồ tiêu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đưa ra những kết luận chung nhất mà đề tài đã thực hiện được khi nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị cho quá trình nâng cao nhận thức của người dân địa phương về ứng dụng công nghệ cao. CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tài liệu nghiên cứu Đề thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo các bài nghiên cứu sau: 2. Tài liệu nước ngoài Mamudu Abunga Akudugu và cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng các công nghệ sản xuất hiện đại vào nông nghiệp của các nông hộ ở Ghana.
Cỡ mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp phân tầng các nông hộ ở quận Bawku West của Ghana. Sau sáu giai đoạn, lựa chọn 150 nông hộ, mỗi hộ khảo sát 1 nam và 1 nữ trưởng thành. Dữ liệu được thu thập bằng cách khảo sát 300 người theo bảng câu hỏi. Sử dụng mô hình logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định của hộ.
Tác giả phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp thành 3 loại: các yếu tố kinh tế, các yếu tố xã hội và các yêu tổ thé chế. Kết quả cho thấy quy mô trang trại và lợi ich dự kiến là yếu tố kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của các nông hộ; các yêu tố xã hội ảnh hưởng đến xác suất ứng dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp hiện đại của các hộ gia đình bao gồm tuổi tác, trình độ học van và giới tính; các yếu tố thé chế bao gồm việc tiếp cận các dich vụ thông tin và khuyến nông. Từ đó đưa ra kiến nghị xây dựng các chính sách dé tận dụng các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng các công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp và giảm thiểu các yếu tố tiêu cực. Dnd Njankoua Wandji và cộng sự (2012) đã thực hiện nghiên cứu nhận thức và áp dụng công nghệ mới vào nuôi trồng thủy sản ở khu vực miền núi Tây Camerron.
Nghiên cứu tập trung vào các nông dân thuộc tỉnh phía Tây của Cameroon, khảo sát ngẫu nhiên hai giai đoạn, tác giả thu được 120 mẫu, trong đó 45 người làm nghề nuôi trồng thủy sản. Tác giả sử dụng mô hình logit nhị phân đơn biến dé xác định các yếu tô chính ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình nuôi trồng thủy sản của địa phương. Kết quả thu được chỉ ra nông dân có định hướng thương mại, nhận thức tích cực về lợi nhuận, tiếp xúc thường xuyên với các nhân viên khuyến nông, trình độ học vấn cao và giới tính là những yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến việc áp dụng nuôi cá. Việc tăng các biến này cũng có thể làm tăng khả năng áp dụng công nghệ mới lên 37,5%, 35,2%, 13,5%, 17,1%ovà 28,8% theo thứ tự tương ứng.
Từ kết quả, tác giả đưa ra các kiến nghị về giáo dục sơ cấp và dao tạo thực tế giúp tăng nhận thức của người nông dân về ứng dụng mô hình nuôi trồng thủy sản mới. Nghiên cứu khảo sát khảo ngẫu nhiên 145 hộ gia đình thuộc khu vực, trong đó 72 hộ có ứng dụng công nghệ cao và 73 hộ không ứng dụng. Tác giả sử dụng mô hình Logit nhị phân dé phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng các công nghệ hiện đại. Kết quả cho thấy việc áp dụng các công nghệ nông nghiệp hiện dai bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.
Những yếu tố này khác nhau giữa các nông hộ do môi địa lý, quan điểm văn hóa xã hội và môi trường kinh tế khác nhau. Đặc biệt biến trình độ học vấn của chủ hộ và khả năng tiếp cận tín dụng được chỉ ra là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định của nông dân. Ngoài ra, thái độ của nông dân đối với chi phí đầu vào, quy mô nông hộ và thu nhập ngoài cúng là những yếu tổ tác động tích cực đến quyết định của hộ gia đình. Từ đó, tác giả đề xuất việc tăng trình độ giáo dục của nông dân, các cơ quan liên quan phải đào tạo những người nông dân hiểu về các khái niệm kinh doanh như tính toán lợi nhuận theo cấp độ của họ.
Kinyangi Audrey Amagove (2014) đã thực hiện nghiên cứu các yêu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp của các nông hộ nhỏ ở tiểu quận Kakamega North, Kenya. Thực hiện khảo sát theo bảng câu hỏi và phỏng van, chia thành 2 mẫu dành cho nông hộ và những người quản lý nông nghiệp tại địa phương. Tác giả sử dụng kỹ thuật chọn mẫu có chủ đích, chon 188 nông hộ thuộc tiểu quận Kakamega North, 125 người đứng đầu từ 25 nhóm sản xuất, 15 người thuộc Viện nghiên cứu nông 6 nghiệp Kenya, 10 người từ Dai hoc dao tạo nông nghiệp Bukura và một quan chức của Bộ Nông nghiệp. Sử dụng mô hình hồi quy và tương quan đã được sử dung dé kiểm tra mức độ ý nghĩa và mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu.
Kết quả cho thấy các biến đào tạo, cơ sở vốn, tín dụng có sự liên kết tích cực và ý nghĩa đối với việc áp dụng công nghệ trong nông nghiệp ở các mức độ khác nhau. Sự sẵn có của các dịch vụ khuyến nông cũng có tác động đến việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp nhưng không đáng kể. Trình độ học van, giới tính và tuôi tác cũng có ý nghĩa đối với việc ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp. Từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị về vốn và dao tạo giúp tăng xác suất các nông hộ ứng dụng công nghệ cao vào công nghiệp.
Tài liệu trong nước Quan Minh Nhựt (2013) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp - xây dựng tại Cần Thơ. Nghiên cứu thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi soạn sẵn, khảo sát một nhóm gồm 135 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp - xây dựng được chọn ngẫu nhiên đại diện cho các doanh nghiệp trên đại bàn thành phố Cần Thơ. Công cụ được sử dụng chủ yếu trong bài viết là hàm hồi quy đa biến. Mục dich sử dụng ham dé tim ra các nhân tố anh hưởng đến quyết định áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh của đoanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng giá trị máy móc thiết bị trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp luôn chiếm ty trọng cao (trên 30%). Nhưng nhìn chung các doanh nghiệp sử dụng các máy móc thiết bị không hiệu quả. Kết qua phân tích hồi quy còn chỉ ra có 5 yếu tố có ý nghĩa thông kê tác động là: tuôi doanh nghiệp, nguồn vốn doanh nghiệp, giảm chi phí sản xuất, quy mô và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Trần Quốc Hùng và Bùi Đức Hùng (2018) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi bò vùng Tây Nguyên.
Dữ liệu được thu thập thông qua phiếu khảo sát, điều tra trực tiếp hộ dân thuộc tinh Dak Nông và tỉnh Gia Lai đại diện vùng Tây Nguyên. Chọn ngẫu nhiên 250 mẫu với 200 phiếu cho họ gia đình và 50 phiếu phỏng vấn sâu. Nguyên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến nhằm tìm ra các nhân tố tác động tới quyết định ứng dung CNC trong chăn nuôi bò vùng Tây Nguyên. Kết quả khang định chỉ có 2 nhân tố là giới tinh của người quyết định sản xuất của nông hộ và trình độ học vấn ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng CNC.
ii Ngoài ra nhân tố việc tiếp cận các nguồn lực có thể được coi là nhân tố mới ảnh hướng đến quyết định của họ. Qua kết quả, tác giả đề ra chính sách đào tạo nguồn nhân lực và tiếp cận thông tin công nghệ, dịch vụ mở rộng va dao tạo - tập huấn. Bùi Đức Hùng và các cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao (ứng dụng CNC) trong sản xuất cà phê vùng Tây Nguyên. Tác giả đã xây dựng mô hình nhị phân Binary Logistic và hàm phi tuyến tinh đa biến dé phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng CNC trong sản xuất cà phê.
Đồng thời, sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS dé xác định thang đo của các nhân tổ tác đó. Tổng số mẫu điều tra là 250 phiếu (20 phiếu cho doanh nghiệp, 189 phiếu cho hộ gia đình và 50 phiếu phỏng vấn sâu) trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy bốn nhân tố tác động quan trọng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất cà phê bào gồm: độ tuổi, trình độ học van, số năm kinh nghiệm và thé chế (gồm khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ mở rộng và tín dụng). Mức độ ứng dụng CNC trong canh tác còn rất thấp, chưa có giải pháp hữu hiệu thúc đây áp dụng phương thức hay mô hình canh tác NNCNC.
Cần gợi ý các chính sách nhằm thúc đây ứng dụng và chuyền giao công nghệ đến người nông dân. Nội dung của các bài nghiên cứu dé cập đến các nhân tô ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp của nông hộ và ứng dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật của các doanh nghiệp.