Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi số của ngành tài chính, các ngân hàng thương mại không ngừng đổi mới mô hình kinh doanh và cập nhật dịch vụ công nghệ nhằm tiếp cận khách hàng và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Ngân hàng xanh (green banking) đã trở thành định hướng phát triển phổ biến trên toàn cầu thông qua các sản phẩm như dịch vụ ngân hàng điện tử (Internet banking, Mobile banking, Phone banking), thanh toán không dùng tiền mặt và các chính sách tín dụng xanh cấp vốn ưu đãi gắn với thẩm định rủi ro môi trường - xã hội.

Tại Việt Nam, nhận thức và mức độ quan tâm của người dân đối với sản phẩm ngân hàng xanh vẫn còn hạn chế (Hà Nam Khánh Giao, 2020). Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2021, có 19/35 ngân hàng xây dựng chiến lược quản lý rủi ro môi trường và xã hội; 19/35 ngân hàng tích hợp đánh giá rủi ro môi trường vào quy trình cấp tín dụng; 10/35 ngân hàng phát triển các gói tín dụng xanh trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi. Chiếu theo khung 5 cấp độ phát triển ngân hàng xanh của Kaeufer (2010), hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện ở cấp độ 3 (Hoạt động kinh doanh có hệ thống) và cần nhiều nỗ lực để tiến lên cấp độ 4 (Sáng kiến cho hệ sinh thái chiến lược) và cấp độ 5 (Sáng kiến cho hệ sinh thái chủ động). Việc thúc đẩy quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại đô thị lớn như Hà Nội là yêu cầu thực tiễn cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại thành phố Hà Nội.
  2. Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại thành phố Hà Nội.
  3. Đề xuất các giải pháp giúp các ngân hàng thương mại thúc đẩy quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại thành phố Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Các yếu tố nào có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của các khách hàng tại thành phố Hà Nội?
  2. Mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của các khách hàng tại thành phố Hà Nội như thế nào?
  3. Bằng cách nào để các ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy được quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của các khách hàng tại thành phố Hà Nội?

Đối tượng và khách thể nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các sản phẩm ngân hàng xanh của ngân hàng thương mại.
  • Khách thể nghiên cứu: Khách hàng của các ngân hàng thương mại tại thành phố Hà Nội đã từng sử dụng qua các sản phẩm ngân hàng xanh.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội, Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2019 – 2023; dữ liệu sơ cấp thu thập từ ngày 15/03/2023 đến ngày 05/05/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Khóa luận tổng hợp các định nghĩa về ngân hàng xanh từ góc độ hoạt động trực tiếp giảm thiểu tác động môi trường nội bộ và gián tiếp thông qua tài trợ các dự án thân thiện môi trường (Foster và cộng sự, 2020; Lymperopoulos và cộng sự, 2012; Goddy và cộng sự, 2020). Các sản phẩm ngân hàng xanh được phân loại theo Ransom và cộng sự (2005), bao gồm: dịch vụ ngân hàng trực tuyến, tài khoản kiểm tra xanh, các khoản vay xanh và thẻ xanh. Nghiên cứu cũng dẫn chiếu cơ sở pháp lý tại Điều 154 Nghị định 08/2022/NĐ-CP về tiêu chí cấp tín dụng xanh và phát hành trái phiếu xanh.

Kế thừa mô hình nghiên cứu từ các công trình của Hà Minh Trí (2021), Raj và cộng sự (2019), Ellahi và cộng sự (2021), tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 5 biến độc lập tác động đến 1 biến phụ thuộc:

  • Biến độc lập: (1) Thúc đẩy trách nhiệm với môi trường (TD), (2) Yếu tố kinh tế (KT), (3) Trải nghiệm sản phẩm xanh (TN), (4) Tính thân thiện với môi trường (TT), (5) Hấp dẫn xã hội (HD).
  • Biến phụ thuộc: Quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh (QD).
Mã hóa biến Tên khái niệm Số biến quan sát Nguồn kế thừa
TD Thúc đẩy trách nhiệm với môi trường 4 (TD1 – TD4) Zahid và cộng sự (2018), Gadenne và cộng sự (2011), Lee (2008)
KT Yếu tố kinh tế 4 (KT1 – KT4) Raj và cộng sự (2019), Huân (2022), Thu và cộng sự (2022)
TN Trải nghiệm sản phẩm xanh 5 (TN1 – TN5) Laroche & Bergeron (2011), Zahid và cộng sự (2018), Hà Minh Trí (2021)
TT Tính thân thiện với môi trường 4 (TT1 – TT4) Papadopoulos (2010), Kumar & Ghodeswar (2015), Khanh và cộng sự (2021)
HD Hấp dẫn xã hội 3 (HD1 – HD3) Bearden & Rose (1990), Tính (2020), Ellahi và cộng sự (2021)
QD Quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh 4 (QD1 – QD4) Tổng hợp thang đo nghiên cứu của tác giả (2023)

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc đóng theo thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
  • Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu phi xác suất theo kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện. Bảng hỏi được phân phát qua biểu mẫu Google Form trực tuyến kết hợp khảo sát trực tiếp.
  • Quy mô mẫu: Tổng số phiếu thu về là 287 phiếu. Sau khi sàng lọc và loại trừ các phiếu không hợp lệ (người chưa từng sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh hoặc không cư trú tại Hà Nội), quy mô mẫu chính thức đạt 246 mẫu hợp lệ.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS để thống kê mô tả mẫu và phần mềm SmartPLS để thực hiện phân tích mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM), thực hiện kiểm định Bootstrap với 1.000 mẫu lặp lại.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG XANH

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngân hàng xanh, làm rõ các tác động hai chiều của mô hình này đối với hoạt động ngân hàng thương mại. Về mặt tích cực, ngân hàng xanh giúp tiết kiệm chi phí năng lượng, giảm thủ tục giấy tờ, hạ lãi suất cho vay, tạo việc làm chuyên môn cao và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường (Rekha Rai và cộng sự, 2019; Ellahi và cộng sự, 2021; Ahuja, 2015). Nghiên cứu trích dẫn trường hợp thực tế tại Ngân hàng Mizuho (Nhật Bản) do Biswas (2021) phân tích, chứng minh việc tài trợ cho các dự án điện mặt trời, năng lượng tái tạo tại Ấn Độ, Qatar, Bangladesh giúp mở rộng quy mô kinh doanh và gia tăng lợi nhuận.

Về mặt tiêu cực và rủi ro, chương này tổng thuật quan điểm của Julia & Kassim (2020) về việc sàng lọc tiêu chuẩn xanh làm giới hạn tệp khách hàng tiềm năng; Park & Kim (2020) về gánh nặng chi phí đầu tư công nghệ và đào tạo nhân lực đối với ngân hàng quy mô nhỏ; và Sun và cộng sự (2020) về rủi ro danh tiếng nếu ngân hàng vô tình tài trợ cho các dự án gây tổn hại sinh thái. Đồng thời, tác giả tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về các yếu tố tác động đến hành vi sử dụng dịch vụ ngân hàng xanh (Raj và cộng sự, 2019; Ellahi và cộng sự, 2021; Hà Minh Trí, 2021).

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 trình bày quy trình nghiên cứu 6 bước: (1) Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu; (2) Xây dựng dàn bài nghiên cứu sơ bộ; (3) Xây dựng cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; (4) Xây dựng thang đo và thực hiện khảo sát, thu thập dữ liệu; (5) Xử lý và phân tích dữ liệu; (6) Đưa ra kết quả nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị. Tác giả thiết lập 5 giả thuyết nghiên cứu tương ứng ($H_1$ đến $H_5$) kiểm định tác động thuận chiều của 5 yếu tố độc lập lên quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh.

Chương này giải thích chi tiết việc lựa chọn phương pháp PLS-SEM trên SmartPLS do tính ưu việt trong việc xử lý mô hình phức hợp và tính toán sai số đo lường với cỡ mẫu yêu cầu tối thiểu khoảng 200 mẫu (Hulland và cộng sự, 1996). Hệ thống thang đo gồm 24 biến quan sát được mã hóa cụ thể, phục vụ việc đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc.

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 3 công bố kết quả phân tích thống kê mô tả từ 246 mẫu hợp lệ và quy trình kiểm định mô hình đo lường, mô hình cấu trúc qua SmartPLS:

Đặc điểm mẫu nghiên cứu chính thức (N = 246):

  • Giới tính: Nam chiếm 50,2% (125 người), Nữ chiếm 49,8% (tỷ lệ cân bằng).
  • Độ tuổi: Nhóm 18 – 25 tuổi chiếm đa số với 89,0% (219 người); nhóm trên 35 tuổi chiếm 6,9% (17 người); nhóm 25 – 35 tuổi chiếm 4,1% (10 người).
  • Trình độ học vấn: Trình độ Đại học chiếm 83,8% (205 người); Trung học phổ thông chiếm 6,5% (16 người).
  • Thu nhập trung bình hàng tháng: Dưới 5 triệu đồng chiếm 44,7%; từ 10 – 15 triệu đồng chiếm 16,3% (40 người); từ 5 – 10 triệu đồng chiếm 14,4% (36 người).

Đánh giá mô hình đo lường:

  • Hệ số tải ngoài (Outer loading): Toàn bộ các biến quan sát đều đạt giá trị $\ge 0,708$ (tiêu biểu như HD1 đạt 0,883), chứng minh các biến quan sát giải thích trên 50% phương sai của biến tiềm ẩn (Hair và cộng sự, 2016).
  • Độ tin cậy thang đo và tính hội tụ: Chỉ số độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR) của tất cả các biến đều vượt ngưỡng 0,7 (Chin, 1998; Hair và cộng sự, 2010). Phương sai trung bình được trích (Average Variance Extracted - AVE) của toàn bộ các cấu trúc đều lớn hơn 0,5 (Hock & Ringle, 2010), ví dụ biến HD có AVE đạt 0,632.
  • Giá trị phân biệt (Discriminant Validity): Thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn Fornell & Larcker (1981) với căn bậc hai AVE của từng biến tiềm ẩn lớn hơn các hệ số tương quan liên cấu trúc (căn bậc hai AVE của HD là 0,795); và chỉ số Heterotrait-Monotrait Ratio (HTMT) giữa các cặp biến đều nhỏ hơn 1 (Garson, 2016), ví dụ cặp HD - KT đạt 0,567.
  • Đa cộng tuyến và mức độ giải thích: Hệ số phóng đại phương sai Outer VIF của tất cả các biến quan sát đều dưới 3 (thậm chí dưới 2, như HD đối với QD là 1,548), loại trừ hiện tượng đa cộng tuyến (Hair và cộng sự, 2019). Hệ số xác định $R^2$ hiệu chỉnh của mô hình đạt 0,671, cho thấy 5 biến độc lập giải thích được 67,1% sự biến thiên của biến quyết định sử dụng (QD).

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Chương 4 thảo luận kết quả kiểm định giả thuyết cấu trúc từ mẫu Bootstrap 1.000, so sánh phát hiện nghiên cứu với các công trình đi trước, đồng thời đề xuất giải pháp quản trị cho các ngân hàng thương mại tại Hà Nội. Tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa bối cảnh Việt Nam và các thị trường phát triển trong việc hình thành động lực tiêu dùng xanh.


Kết quả và đóng góp

Kết quả kiểm định mô hình giả thuyết

Kết quả phân tích mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM trên mẫu Bootstrap 1.000 xác định mức độ tác động và tính có ý nghĩa thống kê của các biến:

Giả thuyết Mối quan hệ tác động Hệ số tác động gốc (Original Sample - $\beta$) Giá trị P-value Mức độ tác động (Thứ hạng) Kết luận kiểm định
$H_1$ Trách nhiệm môi trường (TD) $\rightarrow$ Quyết định sử dụng (QD) -0,024 > 0,05 (bảng ghi -0,768) - Bị loại bỏ (Không có ý nghĩa)
$H_2$ Yếu tố kinh tế (KT) $\rightarrow$ Quyết định sử dụng (QD) - 0,546 - Bị loại bỏ (Không có ý nghĩa)
$H_3$ Trải nghiệm sản phẩm xanh (TN) $\rightarrow$ Quyết định sử dụng (QD) 0,331 0,000 Hạng 2 Chấp nhận (Tác động thuận chiều)
$H_4$ Tính thân thiện môi trường (TT) $\rightarrow$ Quyết định sử dụng (QD) Dương lớn nhất 0,000 Hạng 1 Chấp nhận (Tác động mạnh nhất)
$H_5$ Hấp dẫn xã hội (HD) $\rightarrow$ Quyết định sử dụng (QD) Dương 0,024 Hạng 3 Chấp nhận (Tác động thuận chiều)

Ba biến có tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê lên Quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh (sắp xếp theo mức độ tác động giảm dần):

  1. Tính thân thiện với môi trường (TT): Tác động mạnh nhất (Hạng 1, P-value = 0,000).
  2. Trải nghiệm sản phẩm xanh (TN): Tác động mạnh thứ hai (Hạng 2, $\beta = 0,331$, P-value = 0,000).
  3. Hấp dẫn xã hội (HD): Tác động có ý nghĩa (Hạng 3, P-value = 0,024).

Hai biến Thúc đẩy trách nhiệm với môi trường ($H_1$) và Yếu tố kinh tế ($H_2$) không có tác động đáng kể về mặt thống kê đối với nhóm khách hàng khảo sát tại Hà Nội ($P > 0,05$).

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Dựa trên yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất là Tính thân thiện với môi trường (TT), tác giả đề xuất các giải pháp trọng tâm cho ngân hàng thương mại:

  • Đa dạng hóa danh mục sản phẩm ngân hàng xanh gắn liền với các tiêu chí bảo vệ môi trường rõ ràng.
  • Đẩy mạnh truyền thông minh bạch về đóng góp môi trường cụ thể khi khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng xanh so với dịch vụ truyền thống.
  • Tư vấn, khuyến khích khách hàng dịch chuyển từ các giao dịch giấy tờ truyền thống gây hao hụt tài nguyên sang các nền tảng trực tuyến.
  • Thực hiện chuẩn hóa vận hành chi nhánh theo hướng xanh hóa: tiết kiệm năng lượng, tái chế vật dụng và số hóa toàn diện quy trình làm việc nội bộ.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

  • Về mặt học thuật: Khóa luận kiểm chứng mô hình hành vi tiêu dùng xanh trong lĩnh vực ngân hàng tại thị trường đang phát triển như Việt Nam. Kết quả chỉ ra sự khác biệt so với các nghiên cứu quốc tế (Zahid và cộng sự, 2018; Gadenne và cộng sự, 2011) khi hai yếu tố kinh tế và trách nhiệm môi trường không phát huy vai trò chủ đạo, trong khi tính thân thiện môi trường lại là yếu tố nhận diện tiên quyết thúc đẩy hành vi sử dụng của người tiêu dùng trong nước.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ tham số định lượng cụ thể giúp các ngân hàng thương mại tại Hà Nội phân bổ nguồn lực marketing và phát triển sản phẩm tập trung vào tính thân thiện sinh thái và trải nghiệm tiện ích số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế dựa trên phạm vi và phương pháp triển khai:

  • Phạm vi không gian: Mẫu khảo sát chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa phản ánh đầy đủ hành vi tiêu dùng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại các vùng đô thị khác hoặc trên phạm vi toàn quốc.
  • Quy mô và cơ cấu mẫu: Mẫu hợp lệ dừng lại ở 246 quan sát, thu thập bằng phương pháp phi xác suất (lấy mẫu thuận tiện). Cơ cấu mẫu có sự tập trung cao vào nhóm người trẻ tuổi từ 18 đến 25 tuổi (89%) và sinh viên/người có thu nhập dưới 5 triệu đồng (44,7%), do đó tính đại diện cho toàn bộ tổng thể khách hàng ngân hàng còn hạn chế.
  • Thời gian thu thập dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được lấy theo phương pháp cắt ngang trong khoảng thời gian ngắn (từ 15/03/2023 đến 05/05/2023), chưa đo lường được sự thay đổi trong hành vi khách hàng theo thời gian dài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô mẫu, thực hiện lấy mẫu xác suất phân tầng trên nhiều tỉnh thành và đánh giá thêm các biến trung gian hoặc biến điều tiết trong mô hình hành vi tiêu dùng xanh.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên và học viên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Môi trường: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo về quy trình xây dựng thang đo, thiết kế bảng hỏi Likert và thực hành phân tích mô hình PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS (đánh giá Outer loading, Cronbach's Alpha, CR, AVE, Fornell-Larcker, HTMT, VIF, Bootstrap).
  • Cán bộ quản lý sản phẩm và chiến lược tại các ngân hàng thương mại: Tham khảo bảng xếp hạng mức độ tác động của các yếu tố để thiết kế các chiến dịch truyền thông sản phẩm xanh, tập trung vào nâng cao trải nghiệm trực tuyến và minh bạch hóa tính thân thiện môi trường của dịch vụ tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và đặc điểm nhân khẩu học chính của mẫu khảo sát là gì?
Nghiên cứu thu về 287 phiếu và lọc được 246 phiếu khảo sát hợp lệ từ khách hàng tại Hà Nội. Trong đó, tỷ lệ giới tính cân bằng (50,2% Nam, 49,8% Nữ); 89,0% thuộc độ tuổi 18 – 25; 83,8% có trình độ Đại học trở lên; và 44,7% có mức thu nhập trung bình hàng tháng dưới 5 triệu đồng.

2. Những giả thuyết nghiên cứu nào được chấp nhận và bị bác bỏ trong mô hình?
Có 3 giả thuyết được chấp nhận gồm: $H_3$ (Trải nghiệm sản phẩm xanh tác động thuận chiều, P = 0,000), $H_4$ (Tính thân thiện với môi trường tác động thuận chiều, P = 0,000), $H_5$ (Hấp dẫn xã hội tác động thuận chiều, P = 0,024). Hai giả thuyết bị bác bỏ do không đạt ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$) là $H_1$ (Thúc đẩy trách nhiệm với môi trường) và $H_2$ (Yếu tố kinh tế).

3. Yếu tố nào tác động mạnh nhất đến quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng?
Yếu tố Tính thân thiện với môi trường (TT) có mức độ tác động mạnh nhất (xếp hạng 1), tiếp theo là Trải nghiệm sản phẩm xanh (TN, $\beta = 0,331$, xếp hạng 2) và Hấp dẫn xã hội (HD, xếp hạng 3).

4. Khả năng giải thích của mô hình nghiên cứu đạt tỷ lệ bao nhiêu?
Hệ số xác định $R^2$ hiệu chỉnh (R Square Adjusted) của mô hình đạt 0,671, đồng nghĩa với việc các biến độc lập trong mô hình giải thích được 67,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc Quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh.

5. Theo tác giả trích dẫn, hệ thống ngân hàng xanh tại Việt Nam đang ở cấp độ nào theo mô hình của Kaeufer (2010)?
Căn cứ theo mô hình 5 cấp độ của Kaeufer (2010), Việt Nam đang ở cấp độ 3 (Hoạt động kinh doanh có hệ thống), với 19/35 ngân hàng triển khai chiến lược quản lý rủi ro môi trường - xã hội và 10/35 ngân hàng phát triển các gói tín dụng xanh theo số liệu Ngân hàng Nhà nước năm 2021.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Đào Thảo Anh đã hoàn thành mục tiêu nhận diện và đo lường các yếu tố chi phối quyết định sử dụng sản phẩm ngân hàng xanh của khách hàng tại thành phố Hà Nội thông qua phương pháp định lượng PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS với 246 mẫu hợp lệ. Kết quả thực nghiệm xác định Tính thân thiện với môi trường, Trải nghiệm sản phẩm xanh và Hấp dẫn xã hội là ba nhân tố có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê, giải thích 67,1% phương sai của quyết định sử dụng. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng hữu ích giúp các ngân hàng thương mại định hình giải pháp nâng cao hiệu quả vận hành sản phẩm xanh và phát triển bền vững trong bối cảnh tài chính số tại Việt Nam.