chương 1 sẽ trình bày những nội dung cơ bản về các lý thuyết liên quan đến sự thỏa mãn công việc và sự gắn kết của nhân viên với tổ chức, các thành phần của gắn kết với tổ chức theo quan điểm của các nhà nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết. Lý thuyết về thỏa mãn công việc 1. Định nghĩa Có khá nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn công việc, theo James L Price (1997) thì sự thỏa mãn công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên cảm nhận, có những định hướng tích cực đối với việc làm trong tổ chức(James L Price 1997, p.
Sự thỏa mãn với công việc đồng thời cũng được định nghĩa như là những tình cảm theo chiều hướng tích cực mà nhân viên hướng đến công việc họ đang làm (Schermerhorn, Hunt and Osborn, 1997:98). Khi nhân viên cảm thấy hạnh phúc vui vẽ trong công việc chúng ta có thể nói rằng anh ta hài lòng trong công việc. Theo Schermerhorn (1993) được trích dẫn bởi Luddy (2005), sự thỏa mãn công việc được định nghĩa như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc của nhân viên. Theo Spector (1997) sự thỏa mãn công việc đơn giản là việc nhân viên cảm thấy thích công việc của họ, còn theo Ellichson và Logsdon (2001) thì sự thỏa mãn công việc được định nghĩa là mức độ mà nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhận thức của nhân viên (tích cực hay tiêu cực) về công việc hay môi trường làm việc của họ.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn công việc của nhân viên như đã nêu trên, mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn và cách lý giải khác nhau về thỏa mãn với công việc để sử dụng vào công trình nghiên cứu của -6- mình. Nhìn chung, sự thỏa mãn với công việc được hiểu là cảm xúc yêu thích và hướng đến công việc của mình. Sự thỏa mãn đối với công việc của nhân viên được định nghĩa và đo lường theo cả hai khía cạnh: thỏa mãn chung đối với công việc và thỏa mãn theo các yếu tố thành phần của công việc. Khái niệm về sự thỏa mãn chung được sử dụng trong các nghiên cứu của Levy and Wlliam (1998), Currivan (1999), Cook and Wall (1980), Ellíckson (2002) Gaertner (1999), Kacmar (1999), Ting (1997).
Một quan điểm khác xem sự thỏa mãn công việc là thái độ ảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc của họ (Smith P. Cách tiếp cận theo các khía cạnh khác nhau của công việc được sử dụng trong các nghiên cứu của Stanton and Croaley (2000), Schwepker (2001), Youref (2000). Cả hai cách tiếp cận đều phù hợp cho việc đo lường mức đọ thỏa mãn của nhân viên trong công việc (Price 1997). Tuy nhiên, sử dụng cách tiếp cận theo thành phần của công việc sẽ giúp các nhà quản trị biết rõ hơn về những điểm mạnh, điểm yếu trong việc điều hành tổ chức hoạt động nào được nhân viên đánh giá cao nhất hoặc kém nhất (Deconinck and Stilwell C.
Các thành phần của thỏa mãn công việc Trong nghiên cứu này sử dụng thang đo chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index-JDI) do Smith et al (1969) thiết lập, vì JDI được đánh giá cao trong cả lĩnh vực nghiên cứu lẫn thực tiễn. Price (1997) cho rằng JDI là công cụ nên lựa chọn cho các nghiên cứu đo lường về mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc. Chỉ trong 20 năm cuối thế kỷ 20, JDI được sử dụng trong hơn 600 nghiên cứu được xuất bản (Ajmi 2001). Nghiên cứu sử dụng 5 khía cạnh thành phần thỏa mãn công việc của Smith với nội dung chính sau: * Bản chất công việc: liên quan đến những thách thức của công việc, cơ hội để sử dụng các năng lực cá nhân và cảm nhận thú vị khi thực hiện công việc.
Các yếu tố sau của bản chất công việc sẽ được xem xét gồm: - Công việc cho phép sử dụng tốt các năng lực cá nhân. - Công việc rất thú vị. - Công việc có nhiều thách thức. - Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc.
* Cơ hội đào tạo và thăng tiến: Theo Stanton và Croddley (2000), cơ hội đào tạo và thăng tiến là những gì liên quan đến nhận thức của nhân viên về cơ hội đào tạo, phát triển các năng lực cá nhân và cơ hội thăng tiến trong tổ chức. Nhân viên mong muốn biết được những thông tin về điều kiện, cơ hội, chính sách thăng tiến của công -7- ty, cơ hội được đào tạo và phát triển những kỹ năng cần thiết, định hướng nghề nghiệp cho họ. Các yếu tố về cơ hội đào tạo và thăng tiến bao gồm: - Chương trình đào tạo của công ty có hiệu quả tốt. - Chính sách thăng tiến của công ty có công bằng.
- Công ty tạo cho người lao động nhiều cơ hội phát triển cá nhân. - Công ty thường xuyên nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên. * Lãnh đạo: liên quan đến các mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh đạo cấp trên trực tiếp; sự hỗ trợ của cấp trên; phong cách lãnh đạo và khả năng của lãnh đạo thực hiện các chức năng quản trị trong tổ chức. Các yếu tố về lãnh đạo được xem xét bao gồm: - Lãnh đạo có tác phong lịch sự, hòa nhã.
- Cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu. - Sự hỗ trợ của cấp trên khi nhân viên cần thiết. - Lãnh đạo phải có lời nói và việc làm song hành. - Cấp trên hỏi ý kiến khi có vấn đề liên quan đến công việc của nhân viên.
- Lãnh đạo phải được nhân viên tôn trọng và tin tưởng. - Lãnh đạo nên nói lời xin lỗi khi mắc sai lầm với nhân viên. * Đồng nghiệp: là những cảm nhận liên quan đến hành vi, quan hệ với đồng nghiệp trong công việc tại nơi làm việc, sự phối hợp và giúp đỡ nhau trong công việc với các đồng nghiệp. Các yếu tố về đồng nghiệp được xem xét bao gồm: - Đồng nghiệp thoải mái và dễ chịu.
- Có tin thần đồng đội. - Sẳn sàng giúp đỡ nhau. - Có sự nhất trí cao. * Lương: sự thỏa mãn về tiền lương liên quan đến cảm nhận của nhân viên về tính công bằng trong trả lương.
Sự thỏa mãn về tiền lương được đo lường dựa trên các tiêu thức: - Người lao động có thể sống hoàn toàn dựa vào thu nhập từ doanh nghiệp. - Tiền lương, thu nhập được trả công bằng. - Tiền lương tương xứng với kết quả làm việc. - Nhân viên hài lòng về chế độ tiền lương.
Qua bước nghiên cứu sơ bộ bằng việc thảo luận nhóm với 10 nhân viên đang làm việc tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Bến Tre về các thành phần thỏa mãn trong công việc (xem bài thảo luận nhóm tại phụ lục 1), tác giả đề nghị bổ sung thêm 3 khía cạnh thành phần trong công việc cho JDI để đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên trong Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bến Tre, 3 thành phần bổ sung đó là: -8- - Thương hiệu: liên quan đến niềm tự hào của nhân viên về thương hiệu của tổ chức. - Môi trường làm việc: liên quan đến nơi làm việc, các thiết bị và vật dụng được sử dụng trong lúc làm việc của nhân viên trong tổ chức. - Áp lực công việc: liên quan đến khối lượng công việc cũng như áp lực công việc của nhân viên trong tổ chức. Như vậy tổng cộng các khía cạnh thành phần trong công việc dùng để đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên đối với công việc trong nghiên cứu bao gồm: 1.
Bản chất công việc 2. Cơ hội đào tạo và thăng tiến 3. Thương hiệu 7. Môi trường làm việc 8.
Áp lực công việc 1. Đo lường mức độ thỏa mãn công việc Nghiên cứu sử dụng chỉ số mô tả công việc JDI (Job Descriptive Index) của Smith et al (1969) và bổ sung thêm 3 yếu tố thành phần mới dùng làm thang đo để đo lường mức độ thỏa mãn của nhân viên trong công việc, tổng cộng bảng câu hỏi gồm có 37 biến quan sát đo lường 8 thành phần của sự thỏa mãn công việc, như sau: + Năm thành phần trong chỉ số mô tả công việc JDI: - Thành phần bản chất công việc (4 biến quan sát) - Thành phần cơ hội đào tạo và thăng tiến ( 7 biến quan sát) - Thành phần lãnh đạo ( 8 biến quan sát) - Thành phần đồng nghiệp ( 4 biến quan sát) - Thành phần tiền lương ( 4 biến quan sát) + Ba thành phần được bổ sung: - Thành phần thương hiệu ( 4 biến quan sát) - Thành môi trường làm việc ( 3 biến quan sát) - Thành phần môi trường làm việc ( 3 biến quan sát) 1. Lý thuyết về sự gắn kết với tổ chức 1. Định nghĩa Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình và kết quả làm việc của nhân viên chính là sự gắn kết với tổ chức (Mowday et al., -9- 1982; Allen and Meyer, 1990; Herscovitch and Meyer, 2002; Al Kahtani, 2004; Shaw et al, 2003; Yoursef, 2000).
Do không có sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu trong việc định nghĩa cũng như đo lường sự gắn kết với tổ chức vì vậy có nhiều ý kiến khác biệt về định nghĩa cũng như đo lường sự gắn kết với tổ chức. - Sự gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là một sự kiên định mạnh mẽ (nhất quán hay bất di bất dịch) của một cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể (Mowday and Steers; 1979, P. - Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân hấp thu hay chấp nhận những đặc điểm của tổ chức ( O' Reilly and Chatman, 19860. - Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự sẳn lòng dành hết nổ lực cho tổ chức, sự gắn bó chặt chẻ với tổ chức và tìm kiếm để duy trì mối quan hệ với tổ chức (Kalleberg et al.
- Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự ràng buộc hay liên kết giữa các cá nhân và tổ chức (Mathieu and Zajac, 1990). - Còn theo Meyer and Allen (1990) thì sự gắn kết là trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân với tổ chức.