phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luân văn được kết cấu thành 3 chương. 2 Chƣơng1: Lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bƣu Điện Liên Việt giai đoạn 2010-2012. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Bƣu Điện Liên Việt. 3 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.1 Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế. Đây là hình thức tài chính gián tiếp có vai trò hết sức quan trọng trong lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam được quốc hội khoá 12 thông qua vào ngày 16/06/2010 quy định: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ đề cập đến NHTM. Theo đó “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Ngân hàng thương mại có các chức năng cơ bản: - Chức năng trung gian tín dụng.
- Chức năng trung gian thanh toán. - Chức năng tạo tiền. Trong đó: Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vao trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức 4 năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhận là khoản chênh lệhc giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Tín dụng ngân hàng. Theo luật tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa “cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” Tùy mục tiêu nghiên cứu, mục tiêu của quản trị mà người ta chia tín dụng ngân hàng thành các loại khác nhau. Xét theo mục đích: Tín dụng ngân hàng gồm: – Cho vay kinh doanh bất động sản: Gồm các khoản cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
– Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lãnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. – Cho vay nông nghiệp: Loại vay nhằm hỗ trợ nông dân trong sản xuất như cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu. – Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các công ty tài chính khác. 5 – Cho vay cá nhân: Là loại để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
– Cho thuê: Cho thuê các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị. Xét theo thời hạn: – Cho vay ngắn hạn: Là loại vay có thời hạn đến 12 tháng. – Cho vay trung hạn: Là loại vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm – Cho vay dài hạn: Là loại vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm tùy thuộc vào dự án và giấy phép đầu tư.
Một số trường hợp cá biệt có thể lên tới 40 năm. Xét theo tài sản đảm bảo (TSĐB): – Cho vay không đảm bảo: là loại vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cấp tín dụng chủ yếu dựa vào mức độ tín nhiệm và uy tín của khách hàng. năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay hiệu quả và khả thi. – Cho vay có đảm bảo: là loại vay dựa trên cơ sở các tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố bằng tài sản của khách hàng.
hoặc phải có sự bảo lãnh cầm cố, thế chấp bằng tài sản của người thứ ba. hay cho vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: – Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn cụ thể trong hợp đồng. – Cho vay không thời hạn: Là loại cho vay mà ngân hàng có thể yêu cầu người đi vay trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng: – Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. – Cho vay gián tiếp: Là khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.2 RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng thương mại. Bàn về khái niệm rủi ro hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất nào, những tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.
- Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát nguy hiểm. Nó được xem là điều bất ngờ xảy đến, đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến những nguy hiểm, khó khăn hoặc những điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
- Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang lại tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. - Dù tiếp cận theo cách nào đi chăng nữa thì trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại rủi ro được hiểu là những sự kiện xảy ra nogài mong muốn và đem lại những hậu quả bất lợi ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng. Khác với các lĩnh vực kinh doanh khác, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền nhanh và để lại hậu quả to lớn không chỉ riêng ngân hàng đó mà còn cho ngành ngân hàng và nhiều ngành khác trong nền kinh tế.
Do đó, việc nhận thức về rủi ro để có chiến lược quản trị, biện pháp phòng ngừa và xử lý là điệu kiện không thể 7 thiếu giúp các NHTM thực thi các mục tiêu hoạt động, chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống. - Tóm lại: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là toàn bộ rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng trong quá trình hoạt động, thậm chí làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn dẫn tới phá sản.2 Các loại rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống nên kinh doanh trong ngân hàng gặp rủi ro hơn rất nhiều so với lĩnh vực kinh doanh khác. Những rủi ro cơ bản mà ngân hàng gặp phải là: *) Rủi ro tín dụng: Theo ngân hàng thế giới, rủi ro tín dụng là việc chi trả một khoản tín dụng bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây nên sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Theo khoản 1 điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, được ban hành theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước quy định “ rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng của các tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. - Rủi ro tín dụng phát sinh khi người đi vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ tả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn và lãi hoặc cả hai có thể dẫn đến khả năng mất vốn. - Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản ngân hàng.
Rủi ro tín dụng dẫn tới các rủi ro khác như rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động. Những tác động dây truyền của nó có thể gây ra khủng hoàng tài chính hoặc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi quốc gia hoặc thế giới. Ví dụ điển hình cho cuộc khủng hoảng tài chính 8 thế giới diễn ra năm 2007-2008 xuất phát từ rủi ro tín dụng trong thị trường tín dụng nhà đất ở Mỹ. - Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện này, các ngân hàng thiếu đa dạng trong loại hình kinh doanh dịch vụ.