CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. Rủi ro tác nghiệp và quản trị rủi ro tác nghiệp 1. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hay bị thua lỗ hoặc tổn thất có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay một vài sự kiện. Nói cách khác khi đầu tư mà không thể chắc chắn về lợi nhuận thu được đó chính là rủi ro.
Theo nhiều phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn về mất mát sẽ xảy ra. Với khái niệm về rủi ro trên, nếu có chuyện mất mát mà đã có chủ định từ trước thì không phải là rủi ro, nếu những tổn thất xảy ra mà không được mong đợi thì đó mới là rủi ro. Ví dụ trong đầu tư kinh doanh vàng, rủi ro chính là sự thay đổi giá vàng trên thị trường một cách liên tục. Nghĩa là, trong kinh doanh vàng không ai có thể chắc chắn 100% về lợi nhuận thu được.
Nhưng cho dù quyết định đầu tư hay gửi tiết kiệm, chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro. Người ta có thể cất tiền trong nhà nhưng bạn vẫn phải chấp nhận rủi ro mất trắng nếu nhà bạn cháy. Hoặc khách hàng có thể gửi tiền vào ngân hàng nhưng sức mua của đồng tiền có thể giảm do ảnh hưởng của lạm phát khiến giá thực tế của đồng tiền họ nhận được sau đó còn thấp hơn cả khi gửi tiền vào. Tóm lại: Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động.
Rủi ro tác nghiệp trong hoạt động ngân hàng 1. Khái niệm rủi ro tác nghiệp Với xu thế hội nhập quốc tế, các ngân hàng không ngừng phát triển, các dịch vụ và nghiệp vụ mới ngày càng tăng, điều đó cũng đồng nghĩa với rủi ro xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Các loại rủi ro thường được định nghĩa dựa trên nguyên nhân -2- gây ra rủi ro hay tác động do rủi ro mang lại. Chẳng hạn như rủi ro lãi suất là rủi ro hệ thống gắn liền với sự biến động lãi suất, hay rủi ro tín dụng là những khả năng xảy ra tổn thất do các đối tác không có khả năng thanh toán nợ.
Sau sự kiện ngân hàng Barings1 (1992 – 1995), các chuyên gia ngân hàng đã nhận thấy rằng rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường không bao hàm hết rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt. Các loại rủi ro do hỏa hoạn, lừa đảo, trộm cắp, lỗi hệ thống thông tin.do đó, năm 1999 Ủy ban Basel đã đưa ra hiệp ước Basel II đã đề cập đến khái niệm một loại rủi ro mới đó là rủi ro tác nghiệp. Theo quan điểm của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng trong hiệp ước vốn mới của Basel (2001) thì Rủi ro tác nghiệp là loại rủi ro mà sự mất mát trực tiếp hay gián tiếp do quy trình xử lý nội bộ không đầy đủ hoặc bị hỏng, do con người và hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài2. Tóm lại: Rủi ro tác nghiệp là loại rủi ro mà nguy cơ gây tổn thất phát sinh do quy trình và thủ tục nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi, do con người, do các hệ thống hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.
Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tác nghiệp Theo định nghĩa trên thì rủi ro tác nghiệp xảy ra do 4 nhân tố chính: quy trình, thủ tục nội bộ không đầy đủ hoặc bị lỗi; con người; hệ thống; các sự kiện bên ngoài.1 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tác nghiệp theo Basel Nguyên nhân bên trong nội bộ ngân hàng Nguyên nhân bên ngoài Sự kiện Con người Quy trình Hệ thống bên ngoài Nguồn: The Guidelines on Opertional Risk Management, 2006, trang 9 1 Trước khi giải thể năm 1995, Baring Bank là NHTM lâu đời, thành lập năm 1976, và có uy tín nhất London. 2 Operational risk is defined as: “The risk of direct or indirect loss resulting from inadequate or failed internal processes, people and systems or from external events”. -3- Rủi ro do nhân tố con người: đây là trường hợp CB/NV ngân hàng gian lận, cố ý làm sai, ngân hàng mất hoặc thiếu nhân lực chủ chốt, cụ thể như sau: - Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được ủy quyền và/hoặc vượt quá thẩm quyền cho phép hoặc không đúng chức năng được giao. - Không tuân thủ đúng các quy chế, quy trình nghiệp vụ như cho vay không đúng đối tượng, không đúng mục đích sử dụng vốn, chưa chấp hành các quy chế bảo mật bằng mã khóa điện tử.
- Không chấp hành nội quy cơ quan, hợp đồng lao động và các văn bản pháp luật đối với người lao động nơi công sở như: an toàn lao động, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, quy định bảo mật thông tin nội bộ, thông tin khách hàng…. - Năng lực trình độ nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu công việc, phong cách giao tiếp, ứng xử với khách hàng thiếu văn minh, làm mất khách hàng, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh và uy tín của ngân hàng. - Che dấu sai sót, né tránh khuyết điểm, né tránh khó khăn. - Vi phạm đạo đức nghề nghiệp như: nhân viên kế toán, thủ quỹ và kiểm soát thông đồng để chiếm dụng tiền mặt trong kho, hoặc có thể biển thủ số tiền nộp vào tài khoản của khách hàng; cán bộ tín dụng lợi dụng khách hàng để vay ké, đòi hỏi khách hàng trả phí riêng đối với hoạt động thẩm định TSĐB khoản vay.
Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ: quy trình, nghiệp vụ tại ngân hàng bị vi phạm những lỗi sau: - Văn bản hợp đồng không đầy đủ, chưa phù hợp, không rõ ràng, thiếu hướng dẫn gây khó khăn cho quá trình tác nghiệp của cán bộ ngân hàng. - Việc tuân thủ nội bộ và bên ngoài kém; sản phẩm quá phức tạp. - Có điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, không cập nhật kịp thời quy định của NHNN và của pháp luật, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng gây thiệt hại cho ngân hàng. Rủi ro do hệ thống hỗ trợ: rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin: dữ liệu không đầy đủ, hệ thống bảo mật thông tin chưa tốt, không an toàn dẫn đến virus -4- xâm nhập hệ thống, phá hủy số liệu; đầu tư công nghệ không phù hợp, các phần mềm/các chương trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống; lỗi phần cứng, lỗi đường truyền,….
Ngoài ra, công tác dự phòng và phục hồi dữ liệu không đầy đủ và nghiêm túc cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hay do cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chưa đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ. Rủi ro do các tác động bên ngoài: - Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài (phá hoại hệ thống máy ATM, cướp xe điều chuyển tiền…). - Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên gây gián đoạn, thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng (triều cường, động đất, thiên tai bão lũ…). - Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
- Rủi ro từ các đơn vị cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng (điện, đường truyền thông…), các đơn vị hợp tác cung cấp phần mềm cho ngân hàng gián đoạn, hỏng hóc làm ảnh hưởng đến hệ thống kỹ thuật của ngân hàng. Quản trị rủi ro tác nghiệp 1. Khái niệm quản trị rủi ro tác nghiệp Chúng ta đều biết rằng trong cuộc sống, đặt biệt là trong kinh doanh, chúng ta luôn phải đối mặt với rủi ro. Rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực.
Rủi ro là không thể tránh khỏi nhưng có thể kiểm soát được. Kiểm soát rủi ro tức là việc người ta có thể tăng tối đa lợi nhuận mà vẫn giảm thiểu rủi ro. Làm được như vậy có nghĩa là đã có một lợi nhuận hợp lý với một mức rủi ro chấp nhận được. Và như thế nào là rủi ro chấp nhận được thì nó tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng.
Quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng là quá trình tiến hành các biện pháp để xác định, đo lường, đánh giá rủi ro để đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các giải pháp này. -5- Công tác quản trị rủi ro: là một chuỗi các hoạt động bao gồm: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát - phòng ngừa và tài trợ rủi ro. Nhận dạng rủi ro: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với ngân hàng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp.
Phân tích rủi ro: xác định những nguyên nhân dẫn đến rủi ro bởi mỗi rủi ro không chỉ do một nguyên nhân duy nhất gây ra mà thường do nhiều nguyên nhân gây ra. Trên cơ cở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân để thay đổi nhằm phòng ngừa rủi ro hiệu quả hơn. Đo lường rủi ro: để đo lường rủi ro, cần thu thập số liệu phân tích và đánh giá. Trên cơ sở kết quả thu thập được, lập ma trận đo lường rủi ro.
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng người ta sử dụng cả 2 tiêu chí: tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro – mức nghiêm trọng của tổn thất. Trong đó tiêu chí thứ 2 đóng vai trò quyết định. Kiểm soát – phòng ngừa rủi ro: công việc trọng tâm của công tác quản trị là kiểm soát rủi ro. Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng.