Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO, QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HỆ THỐNG NHTM VÀ HIỆP ƯỚC BASEL II 1.1 Lý luận chung về rủi ro trong hoạt động NHTM Rủi ro tín dụng (RRTD) trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo theo cam kết. (Thông tư 02/2013/TT-NHNN, 2013) Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn trong giao dịch với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Rủi ro thị trường (RRTT) là loại rủi ro phát sinh do những biến động bất lợi từ thị trường, bao gồm bốn loại: - Rủi ro thanh khoản là rủi ro do Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ, trả tiền khi đến hạn; hoặc Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn nhưng chịu chi phí cao bất thường để thực hiện nghĩa vụ đó. - Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra những biến động của lãi suất dẫn đến những tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh và giảm thu nhập dự tính của Ngân hàng. - Rủi ro tỷ giá là khả năng xảy ra những biến động tỷ giá hối đoái dẫn đến những tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh và giảm thu nhập dự tính của Ngân hàng.
- Rủi ro giá đầu tư là khả năng xảy ra những biến động của giá cổ phiếu, trái phiếu và những khoản đầu tư vốn và chứng khoán khác dẫn đến việc giảm giá trị các khoản đầu tư mà Ngân hàng nắm giữ. Rủi ro hoạt động (RRHD) là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố 5 bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý). Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Rủi ro chiến lược là rủi ro do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh hoặc do các chiến lược, chính sách kinh doanh sai lầm.
Rủi ro pháp lý là rủi ro phát sinh do ngân hàng bị khởi kiện, hoặc khi nhà nước thay đổi đột ngột chính sách vĩ mô về cơ cấu kinh tế, lĩnh vực ưu tiên… thì điều này có thể dẫn tới rủi ro thua lỗ cho ngân hàng.2 Quản trị rủi ro trong NHTM Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là việc theo dõi quá trình sử dụng vốn của ngân hàng với nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát và hạn chế các loại rủi ro phát sinh, đưa ra các chiến lược kinh doanh cụ thể nhằm giúp Ngân hàng tận dụng được đòn bẫy tín dụng một cách hiểu quả, cũng như đảm bảo Ngân hàng không chịu những rủi ro mà có thể kiểm soát được. Đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm trong sử dụng vốn của ngân hàng. Theo ông Cấn Văn Lực trình bày tại hội thảo Quản trị rủi ro (2013), có 8 nguyên tắc giúp Ngân hàng kiểm soát tốt Quản trị rủi ro: - Nguyên tắc chấp nhận và quản lý “rủi ro cho phép” được thể hiện trong “khẩu vị rủi ro” của các Ngân hàng; - Tính tương quan giữa mức độ rủi ro và thu nhập (risk- return tradeoff); - Nguyên tắc phân tán rủi ro giúp các Ngân hàng chuyển/san sẻ các rủi ro không được phép; - Tính phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng; - Tính tương quan giữa các loại rủi ro: rủi ro này có liên quan đến rủi ro khác; 6 - Tính độc lập các rủi ro riêng biệt: bộ phận QTRR báo cáo trực tiếp lên Ban lãnh đạo Ngân hàng; - Tính liên tục nhằm đảm bảo theo kịp các thay đổi của thị trường; - Tính cần thiết khi triển khai một sản phẩm mới. Công tác quản trị rủi ro ngân hàng thông thường bao gồm các bước sau: - Xác định hạn mức rủi ro: Các bộ phận nghiệp vụ QTRR xác định hạn mức rủi ro cho bộ phận mình.
Hội đồng quản trị theo định kỳ có trách nhiệm xem xét lại và thông qua các hạn mức đó. Các mức này sau đó được thông báo tới toàn bộ nhân viên các bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành. Ban điều hành chịu trách nhiệm đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các hạn mức này. Có tỷ lệ thưởng và phạt tính trên tổng số thấp hơn và lớn hơn tổng số vượt hạn mức đó.
- Đánh giá rủi ro: Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro lớn liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động của TCTD, phải có các chốt kiểm tra nằm trong quy trình nghiệp vụ để kiềm chế rủi ro trong các hạn mức đã được đề ra cùng với các biện pháp để theo dõi các trường hợp ngoại lệ vượt hạn mức rủi ro. - Theo dõi rủi ro: sau khi xác định hạn mức và đánh giá được mức độ rủi ro của từng loại rủi ro để từ đó theo dõi rủi ro theo từng lĩnh vực kinh doanh với những mức độ rủi ro khác nhau. - Kiểm soát rủi ro: kiểm soát rủi ro trên góc độ toàn diện các hoạt động ngân hàng để đưa ra biện pháp giảm thiểu rủi ro hợp lý. - Báo cáo đánh giá về quản trị rủi ro: căn cứ dựa trên kết quả đánh giá rủi ro để báo cáo đánh giá những mặt được, tồn tại, để rút kinh nghiệm và có hướng giải quyết phù hợp.
Một số công cụ quản lý rủi ro của các tổ chức tài chính hiện nay như: - Tự đánh giá rủi ro RCSA (Risk Control Self- Assessment): Nhiều ngân hàng sẽ áp dụng công cụ này như một nền móng cho việc nhận diện và ước lượng khả 7 năng dễ bị tổn thất của họ bởi các rủi ro hoạt động, và đây luôn là bước đầu tiên trong quá trình quản lý và đánh giá. Các bài tập đánh giá được tiến hành qua những cách tiếp cận từ dưới lên trên (up-down approach), những nhà quản lý kinh doanh cung cấp thông tin cần thiết trong phạm vi cơ cấu đặt ra bởi những chuyên gia trong lĩnh vực rủi ro hoạt động. Các công cụ RCSA cũng có thể trình bày như những bài tập từ trên xuống dưới (top- down exercise), thường bắt đầu từ mức độ quản lý cao cấp hơn, nhằm mục đích đưa tổ chức đạt đến tầm nhìn quản lý doanh nghiệp trình độ cao, đặc biệt quan trọng đối với việc quản lý rủi ro doanh nghiệp. - Báo cáo chỉ số rủi ro chính KRI (Key risk Indicator): KRIs được sử dụng như một cách quản lý cảnh giác để thay đổi trong phạm vi tổ chức.
Lợi ích nhất của KRIs là có thể dự đoán và cung cấp các tín hiệu cảnh báo sớm cho việc quản lý để thay đổi môi trường rủi ro và kiểm soát trước khi thiệt hại xảy ra. Nguyên tắc của KRIs là các ngân hàng có thể nhận biết các chỉ tiêu về thiệt hại do rủi ro hoạt động và giám sát chúng dựa trên một cơ sở có tính chu kì. Khi các KRIs trở thành đoán trước, chúng có thể hoà nhập vào quá trình tính toán vốn. - Giá trị rủi ro VaR (Value at Risk): là tính toán số tiền lớn nhất có khả năng bị mất của danh mục với một độ tin cậy nhất định (thông thường là 99% hoặc 95%) và trong một khoảng thời gian nhất định (ví dự như 1 ngày, 1 tuần,…) để có thể phòng ngừa những trường hợp xấu gây phá sản sao cho lượng vốn dữ trữ đó là đủ để ngân hàng sử dụng trong trường hợp bất thường xảy ra cũng như không dự trữ quá dư thừa dẫn đến nguồn vốn không thể lưu thông vào hoạt động kinh doanh dẫn đến giảm lợi nhuận.
- Mô hình kiểm tra, kiểm soát nội bộ là hệ thống các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức, được thiết lập để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của ngân hàng. Đồng thời, đảm bảo mọi cán bộ nhân viên đều phải tuân thủ các chính sách và quy 8 định nội bộ. Như vậy, hệ thống KSNB điều chỉnh hành vi của các thành phần nghiệp vụ, không chỉ giới hạn trong kiểm soát chức năng kinh doanh, kiểm soát tài chính mà còn điều chỉnh toàn bộ các chức năng như: quản trị điều hành, bộ máy tổ chức, nhân sự,.3 Hiệp ước quốc tế Basel về quản trị rủi ro hệ thống Ngân hàng 1.1 Tìm hiểu về ủy ban Basel 1.1 Lịch sử hình thành Vào những năm 1980, hệ thống NHTM trên thế giới phát triển mạnh và có những dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng. Đồng thời, quy định về vốn điều lệ của các NHTM ở các nước khác nhau, nên dẫn đến cạnh tranh không công bằng trong cùng một thị trường.
Vì vậy lãnh đạo các nước phát triển đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp thích hợp vừa khuyến khích cạnh tranh nhưng đảm bảo công bằng và an toàn cho người gửi tiền, đó là một trong những lý do quan trọng cho sự ra đời Hiệp ước Basel. Basel là yêu cầu về an toàn vốn do các NH thuộc các nước nhóm G10 khởi xướng và được Ủy ban Quản lý ngân hàng thuộc NH Thanh toán Quốc tế (BIS) ban hành lần đầu tiên vào năm 1988. Do tính thiết thực của nó nên cộng đồng các tổ chức tài chính, NH của hơn 100 nước khác cùng hưởng ứng. Để phù hợp với những thay đổi lớn của thị trường, Basel đã được cải tiến và sửa đổi lần thứ hai (Basel II) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2006.