chương 1, nhóm đã giới thiệu được những nội dung nghiên cứu quan trọng thông qua lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đồng thời còn đưa ra được mô hình nghiên cứu đề xuất nhằm làm cơ sở cho bài viết. Bên cạnh đó, nhóm còn đưa ra được kết cấu của đề tài nghiên cứu, từ đó đưa ra được cái nhìn tổng quát quá trình hình thành đề tài giúp xây dựng cơ sở cho việc phân tích những luận điểm, cách sử dụng các phương pháp tìm kiếm thông tin cho bài nghiên cứu. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một giới thiệu khái quát về nghiên cứu. Chương hai trình bày khái quát về các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến sự đổi mới thời trang, sự đổi mới thương mại điện tử, giá trị cảm nhận, niềm tin, thái độ, tôn giáo.
Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến tại TP HCM. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2.1 THỜI TRANG Thời trang là một sự thể hiện thẩm mỹ phổ biến tại một thời gian, địa điểm cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể bằng cách sử dụng quần áo, giày dép,lối sống , phụ kiện, cách trang điểm, kiểu tóc và tỷ lệ cơ thể. Không như xu hướng thường chỉ bao hàm một sự thể hiện thẩm mỹ riêng biệt và thường kéo dài ngắn hơn một mùa, thời trang là sự thể hiện đặc biệt, được hỗ trợ bởi ngành công nghiệp thời trang mà thường gắn liền với các mùa và bộ sưu tập. Phong cách là một biểu hiện kéo dài qua nhiều mùa và thường được kết nối với các phong trào văn hóa và các dấu hiệu xã hội, biểu tượng, giai cấp và văn hóa (ví dụ: Baroque, Rococo.
Theo nhà xã hội học Pierre Bourdieu, thời trang có nghĩa là "thời trang mới nhất, sự khác biệt mới nhất".Dù thường được sử dụng cùng nhau, thuật ngữ thời trang khác với quần áo và trang phục. Thuật ngữ đầu tiên mô tả chất liệu và kỹ thuật may mặc, trong khi thuật ngữ thứ hai được dùng để chỉ sự cảm nhận đặc biệt như ăn mặc sang trọng hoặc hóa trang. Thay vào đó, thời trang mô tả một hệ thống xã hội và thời gian "kích hoạt" việc ăn mặc thành một dấu hiệu xã hội trong một thời điểm và bối cảnh nhất định. Triết gia Giorgio Agamben liên hệ thời trang với cường độ hiện tại của thời điểm định tính, với khía cạnh thời gian mà tiếng Hy Lạp gọi là kairos, còn quần áo thuộc về định lượng, là cái mà người Hy Lạp gọi là Chronos.
Sản xuất hàng loạt các mặt hàng thời trang tiêu dùng với giá rẻ hơn và có sức phủ sóng toàn cầu ngày càng tăng, khiến cho sự bền vững đã trở thành một vấn đề cấp bách giữa các chính trị gia, nhãn hiệu và người tiêu dùng. Sự đổi mới thời trang: Sự đổi mới thời trang là xu hướng thời trang mới về phong cách mà được một nhóm người chấp nhận tại một thời điểm và một khu vực nào đó. Xu hướng được hình thành dựa trên các yếu tố: con người, sự chấp nhận, thời gian và địa điểm diễn ra. Mặt khác, khi nhắc đến xu hướng thời trang.
Người ta liền nghĩ ngay đến việc nghiên cứu về : Form dáng trang phục, phụ kiện, phụ tiêu, chi tiết trang trí, họa tiết trang trí.2 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Thế kỷ XXI được xem là thời đại của công nghệ, nền kinh tế số, trong đó, Thương mại điện tử có vai trò tương đối quan trọng, có vai trò làm then chốt cho sự phát triển. Đến nay đã có rất nhiều các quan điểm, các cách hiểu khác nhau về Thương mại điện tử, nhưng tóm lại có các cách hiểu như sau: Thương mại điện tử, theo nghĩa hẹp, là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và Internet. TMĐT bắt đầu bằng việc các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C); ví dụ như: alibaba. Thương mại điện tử, theo nghĩa rộng, Theo Tổ chức thương mại thế giới WTO: “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình cả các sản phẩm được giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng Internet”.
Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế của Liên Hợp quốc (OECD): “TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”. Theo Ủy ban châu Âu (EC): “TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng văn bản, âm thanh và hình ảnh”. Thương mại điện tử, theo nghĩa chung: “TMĐT (Electronic Commerce) là một khái niệm được dùng để mô tả quá trình tiến hành các giao dịch thương mại thông qua mạng Internet, hoặc các mạng truyền thông và các phương tiện điện tử khác”.
TMĐT là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử mà không phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. Theo công bố của Bộ Công thương các nước thuộc tổ chức Thương mại thế giới (WTO): TMĐT bao gồm sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hay giao sản phẩm/dịch vụ bằng phương tiện điện tử. Theo thương mại truyền thống: Thương mại theo nghĩa thông thường là sự chuyển giao giá trị thông qua bốn hình thức cơ bản: mua, bán, đầu tư, vay mượn; từ đó, TMĐT được định nghĩa một cách đơn giản là sự chuyển giao giá trị qua internet của một trong bốn hoạt động: mua, bán, đầu tư, vay mượn. Theo Ủy ban TMĐT của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC): TMĐT liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet.
Theo Ủy ban Châu Âu: TMĐT có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công. Sự đổi mới thương mại điện tử Thời đại công nghệ số 4.0, cùng với sự phát triển như vũ bão của Internet, xu hướng kinh doanh trực tuyến hay bán hàng online đã đem lại hiệu quả kinh tế cho rất nhiều ngành nghề kinh doanh tại Việt Nam. Thị trường TMĐT đang ngày càng rộng mở với nhiều mô hình, chủ thể tham gia, các chuỗi cung ứng cũng đang dần thay đổi theo hướng hiện đại hơn khi có sự hỗ trợ từ số hóa và công nghệ thông tin.
Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, thị trường thương mại điện tử đang trở nên sôi động hơn và việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng kênh phân phối mới đang trở thành một phương án hữu hiệu cho các doanh nghiệp Việt vượt qua khó khăn, mang đến cơ hội mới từ phía cầu thị trường trên cơ sở làm thay đổi thói quen mua hàng của người tiêu dùng, chuyển từ thói quen mua hàng truyền thống sang mua hàng qua TMĐT. Mô hình lý thuyết chấp nhận thương mại điện tử: (E-Commerce Adoption Model E-CAM): Tác giả Joongho Ahn, Jisoo Park, và Dongwon Lee (2001) đã xây dựng mô hình chấp nhận sử dụng thương mại điện tử E-CAM (E-commerce Adoption Model) bằng cách tích hợp mô hình TAM với thuyết nhận thức rủi ro. Nghiên cứu này đã cung cấp kiến thức về các yếu tố tác động đến việc chuyển người sử dụng internet thành khách hàng tiềm năng. Nhận thức tính dễ sử dụng và nhận thức sự hữu ích phải được năng cao, trong khi nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/ dịch vụ và nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến phải được giảm đi.
1: Mô hình lý thuyết chấp nhận thương mại điện tử: (E-Commerce Adoption Model E-CAM)- Joongho Ahn, Jisoo Park, và Dongwon Lee (2001) 2.3 NIỀM TIN Niềm tin là một khái niệm trừu tượng vô hình. Ta có thể cảm nhận được niềm tin nhưng rất khó để cụ thể hóa, để hình dung. Niềm tin được hiểu là một trạng thái, một giá trị tinh thần được hình thành trong suy nghĩ của mỗi con người. Niềm tin được định nghĩa là gắn liền với những điều tích cực, như những khát vọng và ước mơ về tương lai.
Niềm tin còn được cho rằng là động lực thúc đẩy giúp mỗi người vượt qua mọi thử thách và khó khăn của cuộc sống. Quá trình xây dựng niềm tin chính vì vậy cũng mang tính cảm tính. Có người chỉ cần tích tắc đã xây dựng được niềm tin cho mình và cho người khác, nhưng cũng có người mất cả đời để xây dựng niềm tin cho chính mình. Niềm tin được xây dựng và hình thành trong suốt giai đoạn con người trưởng thành.
Các yếu tố tác động đến niềm tin có thể kể đến là sự giáo dục của gia đình, xã hội, bối cảnh sống. Những yếu tố sẽ xây dựng nên niềm tin của con người. Mỗi con người là một cá thể khác nhau, chịu sự tác động khác nhau từ những yếu tố trên vậy nên niềm tin của mỗi người cũng sẽ khác nhau. Niềm tin với mỗi người đó có thể đúng, có thể sai, có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực.
Nên có nhiều điều với ta là đúng nhưng với người khác là sai. Vì vậy, có thể nói một cách đơn giản niềm tin là cảm nhận của chúng ta về một sự việc, một giá trí nào đó là đúng nên mặc nhiên ta cho rằng nó là đúng mà không quan trọng thực tế nó đúng hay sai. Bên cạnh đó, niềm tin là một chuỗi giá trị đầy biến cố trong cuộc đời con người. Niềm tin có thể nhất quán xuyên suốt, nhưng niềm tin cũng có thể thay đổi theo thời gian và quan niệm sống của con người.
Có người xây dựng niềm tin một cách rất chủ quan không cần minh chứng nào.