Đặt vấn đề Vấn nạn ùn tắc giao thông vẫn đang là vấn đề cấp thiết tại thủ đô Hà Nội. Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, đại diện cho bản sắc văn hóa con người Việt, là cái nôi của động lực phát triển kinh tế đất nước. Thế nhưng, hình ảnh những hàng xe nối đai hàng kilomets ngày nắng cũng như ngày mưa, những chiếc xe thô sơ chở hàng cồng kềnh, hình ảnh giao thông bát nháo lộn xộn, còi xe inh ỏi duòng như đã là một phần trong cuộc sống thường nhật con người Hà Nội. Thực trạng đó đã phần nào kìm nén sự tăng trưởng vượt trội của Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang dần khẳng định vị thế trên bản đồ chính trị và kinh tế thế giới, một câu hỏi lại được đặt ra rằng: Làm thế nào giải quyết được bài toán giao thông hiện nay để đón đầu xu thế phát triển bởi giao thông đô thị là huyết mạch của thành phố, nó gắn liền với quá trình tăng trưởng kinh tế, phát triển giao thông bền vững là tiêu chí hàng đầu để đánh giá đô thị bền vững. Để thực hiện được điều đó, giao thông công cộng lại được nhắc đến như một giải pháp hoàn hảo có thể giải quyết tất cả các vấn đề trên. Theo Sở Giao thông Vận tải Hà Nội, số lượng phương tiện cá nhân tại Hà Nội liên tục tăng, kéo theo tình trạng ùn tắc giao thông gia tăng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng lượng khí phát thải, tăng ô nhiễm không khí. Hiện nay, Hà Nội có trên 7.860 nghìn phương tiện các loại.
Trong đó, ô tô là trên 1.000; xe máy, mô tô các loại 6.000; xe máy điện 184/471 phương tiện. Qua theo dõi cho thấy, mỗi năm Hà Nội tăng 390.000 phương tiện; mỗi tháng tăng 32.750 phương tiện; mỗi ngày tăng 1.100 phương tiện các loại. Số lượng này rất lớn, là nguồn khí thải lớn gây ô nhiễm không khí, chưa kể việc sử dụng nhiên liệu đốt khác. Còn tỷ lệ diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị của Thủ đô mới đạt khoảng 10,3% (yêu cầu đặt ra là 20 - 26%).
Diện tích đất cho giao thông tăng bình quân hằng năm chỉ 0,26 - 0,3%/năm; quỹ đất dành cho giao thông tĩnh đạt dưới 1%. Trong khi đó tốc độ gia tăng dân số tự nhiên và cơ học giai đoạn 2011 - 2020 là khoảng 2,48%/năm. Sự chênh lệch đó tất yếu dẫn đến quá tải hạ tầng giao thông ngày càng trầm trọng, nhất là trên những tuyến đường cấp đô thị hướng tâm, vành đai, các cầu vượt sông Hồng…Điều này đã làm gia tăng nhu cầu vận tải hành khách trong đô thị, gây áp 7 lực lớn lên hệ thống giao thông vận tải. Để quản lý phát thải của phương tiện tham gia giao thông nhằm giảm ô nhiễm môi trường nhằm phát triển giao thông bền vững, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội đã đưa ra giải pháp phát triển giao thông vận tải Thủ đô theo hướng sử dụng vận tải công cộng là chính; xây dựng cơ chế hỗ trợ để khuyến khích người dân sử dụng phương tiện công cộng nhằm hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân.
Đến nay, mạng lưới xe buýt tiếp cận đến 30/30 quận, huyện, thị xã (đạt 100%); 510/579 số xã, phường thị trấn (đạt 88,4%); 65/75 bệnh viện; tiếp cận 100% khu công nghiệp lớn; 33/37 các khu đô thị đạt 89,2%; 23/24 làng nghề; 23/25 khu di tích lịch sử văn hoá khu du lịch; kết nối với 6 tỉnh - thành lân cận. Theo tin từ Trung tâm Quản lý giao thông công cộng thành phố Hà Nội (HPTC), 9 tháng năm 2023, hệ thống đường sắt đô thị, xe buýt của Hà Nội vận chuyển hơn 417,2 triệu lượt khách (đạt 96,4% so với kế hoạch, tăng 56,8% so với cùng kỳ). Theo đó, đối với xe buýt, tổng lượt xe thực hiện ước đạt 5. Tổng hành khách vận chuyển ước đạt 410 triệu (đạt 94,7% so với kế hoạch và tăng 57,1% so với thực hiện cùng kỳ 2022).
Tổng doanh thu toàn mạng buýt ước đạt 410,2 tỷ đồng. Riêng tuyến buýt nhanh BRT vận chuyển khoảng 3,4 triệu lượt khách. Tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông vận chuyển hơn 7 triệu lượt hành khách trong 9 tháng với tổng doanh thu ước đạt 55,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, hiều chuyên gia cho rằng, bên cạnh những khó khăn về hạ tầng, áp lực giao thông khổng lồ của Hà Nội còn khó giải tỏa do mạng lưới vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) chưa đáp ứng nhu cầu đi lại, chưa khai thắc được hết năng lực và khả năng vận chuyển.
Lãnh đạo Sở GTVT Hà Nội cho biết, hệ thống VTHKCC của TP mới đảm nhận được thị phần vận tải khoảng 19,5%. Mạng lưới đường sắt đô thị (ĐSĐT) được xem như xương sống của VTHKCC chậm phát triển, mới chỉ có một tuyến số 2A Cát Linh - Hà Đông được đưa vào vận hành. Hà Nội còn có mạng lưới xe buýt phủ sóng đến toàn bộ xã, phường, thị trấn với 153 tuyến. Tuy nhiên, do thiếu đường dành riêng, phải lưu thông chung với xe cá nhân, và chịu áp lực từ UTGT nên chưa bảo đảm được yêu cầu của hành khách.
Mặt khác, hành lang đi cho hành khách đi bộ đến điểm dừng đỗ, điểm trung chuyển xe buýt, điểm đầu cuối xe buýt đều rất thiếu so với yêu cầu, thậm chí bị chiếm dụng, khiến bộ phận không nhỏ người dân chưa mặn mà với loại hình VTHKCC, vẫn 8 ưa chuộng sử dụng xe cá nhân. Hà Nội còn là TP có khí hậu không thuận lợi cho đi bộ nên việc sử dụng phương tiện giao thông cho đi lại chặng ngắn rất cao. Theo Tổng cục thống kê, tính đến cuối năm 2023 Hà Nội đang có khoảng 600.000 sinh viên đang theo học tại các trường đại học và cao đẳng, con số này chiếm gần 1/10 dân số toàn thành phố, đặc biệt tại các quận trung tâm mật độ sinh viên vô cùng dày đặc và tăng đều qua các năm. Một bài toán nữa được đặt ra đó là làm sao có thể thu hút được phần đông sinh viên sử dụng dịch vụ phương tiện công cộng góp phần giải quyết các vấn đề về giao thông tại thủ đô.
Đứng trước thực trạng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên trên địa bàn Hà Nội”. Nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn phương tiện công của sinh viên, từ đó đưa ra các đề xuất quản trị cho các nhà hoạch định nhằm đưa ra các chính sách điều chỉnh phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu phát triển giao thông đô thị theo hướng bền vững. Mục tiêu nghiên cứu 2. Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên trên địa bàn Hà Nội nhằm đưa ra các đề xuất quản trị và các giải pháp thay đổi nhận thức của họ trong việc sử dụng phương tiện công cộng.
Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Thứ nhất là hệ thống hóa các cơ sở lý luận, làm rõ các vấn đề liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên. - Thứ hai là xác định yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên. - Thứ ba là là đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên. - Thứ tư là thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên.
- Thứ năm là đưa ra các đề xuất giải pháp 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3. Đối tượng nghiên cứu: Là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng. Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viện trên địa bàn Hà Nội.
- Về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023. - Về nội dung; Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viện như cảm nhận về sự hữu ích, cảm nhận dịch vụ, cảm nhận sự an toàn,. Phương pháp nghiên cứu chung: - Phương pháp phân tích xem xét từng yếu tố tác động để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viên. - Phương pháp định lượng, điều tra bảng hỏi: tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn phương tiện công cộng của sinh viện trên địa bàn Hà Nội.
- Để xử lý dữ liệu: Sử dụng mô hình hồi quy OLS. - Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Hà Nội. - Thời gian khảo sát: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 9/2023 đến tháng 12/2023. - Địa bàn khảo sát: Khảo sát trực tiếp tại các điểm dừng đỗ xe bus, ga tàu, các địa điểm trông giữ xe đạp công cộng thuộc các quận trung tâm Hà Nội như Cầu Giấy, Tây Hồ, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm và các địa bàn ngoại thành như: Huyện Hoài Đức, Sóc Sơn, Gia Lâm,.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình về quyết định lựa chọn * Lê Hoàng Ngọc Vân (2010), đưa ra mô hình ra quyết định của người tiêu dùng trong luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của người tiêu dùng mỹ phẩm”, tác giả đã đề xuất 8 nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn mua mỹ phẩm như sau: (1) Coi trọng chất lượng cao, (2) Coi trọng nhãn hiệu, giá ngang với chất lượng, (3) Coi trọng tính mới lạ, (4) Coi trọng tính tiêu khiển, giải trí, (5) Coi trọng giá cả, giá trị thu lại, (6) Bốc đồng, bất cần, (7) Bối rối do quá nhiều lựa chọn, (8) Trung thành với nhãn hiệu. * Phạm Nhật Vi (2020) cung nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua mỹ phẩm thuần chay của người tiêu dùng tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu”.