CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài Khu vực kinh tế - văn hóa đặc biệt quan trọng của khu vực phía Nam, Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có nhiều tài nguyên, được thiên nhiên ưu ái với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dài hơn 28.000 km với hệ sinh thái đa dạng từ nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Đặc biệt, ĐBSCL còn là kho tàng văn hóa chứa đựng bản sắc, lối sống trên sông nước, là vùng đất có nhiều tiềm năng phát triển các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch… Song, trong những năm gần đây ĐBSCL là một trong những điểm nóng trên toàn cầu về biến đổi khí hậu. Khu vực này không chỉ rất lệ thuộc vào các hoạt động nông nghiệp đặc trưng (như đánh cá và nuôi tôm), khai thác du lịch, vận tải,.
mà còn dễ bị tổn thương bởi tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm cả những hiện tượng biến đổi khí hậu diễn ra từ từ như nước biển dâng, xâm nhập mặn lẫn các hiện tượng biến đổi khí hậu diễn ra đột ngột như bão và lũ. Sự suy thoái môi trường có thể làm suy giảm hoặc ít nhất thay đổi cơ cấu sinh kế, sự mất an toàn về môi trường sống ở một số khu vực cụ thể, khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn, ảnh hưởng nặng nền đến sinh kế, đặc biệt là kinh tế. Có vẻ như biến đổi khí hậu cũng đã ảnh hưởng đến các hình thái di cư quan trọng ở miền Nam Việt Nam (chủ yếu là di cư trong nước). Một hành lang di cư đã được hình thành nối vùng ĐBSCL và các thành phố như Cần Thơ và đặc biệt là Tp.
HCM, Bình Dương,… Tuy nhiên, quá trình này có thể kéo dài vài năm hoặc thậm chí lâu hơn. Chính vì những lý do nêu trên, Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ đã xác định tầm nhìn đến năm 2100, “ĐBSCL phát triển bền vững, an toàn, thịnh vượng, trên cơ sở phát triển phù hợp nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, công nghiệp.”, Nghị quyết cũng nêu rõ, phát triển dịch vụ-du lịch dựa trên tiềm năng, lợi thế về đặc điểm tự nhiên, sinh thái, văn hóa, con người với hiệu quả kinh tế cao; phát triển các loại hình du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên. Với các sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của vùng, ĐBSCL trở thành khu du lịch trọng điểm của Vùng Tây Nam Bộ. Vì vậy, định hướng phát triển cho du lịch vùng ĐBSCL là du lịch văn hóa, lễ hội trong đó có 04 khu du lịch và 07 điểm du lịch rải rác khắp các tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSCL (Thủ tướng Chính phủ, 2016).
ĐBSCL luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ, chính quyền địa 2 phương và đang có nhiều điều kiện để du lịch phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn. Năm 2018, ĐBSCL đã đón hơn 40 triệu lượt du khách, tăng 16,8% so với năm 2017. Trong đó, có hơn 3 triệu lượt khách quốc tế. Năm 2019 (tác giả không sử dụng số liệu các năm 2020, 2021, 2022 vì đây là những năm ngành du lịch chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19), khu vực này đón 47 triệu lượt du khách, khách lưu trú ước đạt 13,5 triệu lượt; tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt 30 nghìn tỷ đồng (Tổng cục thống kê, 2019), và có nhiều cơ hội phát triển song cũng đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức mang tính sống còn, nước biển dâng, gây ảnh hưởng nặng nề trong nhiều năm trở lại đây.
Tuy nhiên, hoạt động du lịch vùng ĐBSCL chưa phát huy được hết tiềm năng, chưa được khai thác một cách hiệu quả và tương xứng là do sản phẩm du lịch chưa được đa dạng, quảng cáo chưa hiệu quả, nguồn nhân lực chưa được đào tạo, hạ tầng giao thông cho du lịch còn hạn chế và sản phẩm cần đẩy mạnh các hoạt động phát triển sản phẩm du lịch theo hướng thích ứng biến đổi khí hậu, thân thiện với môi trường. Do đó, Du lịch vùng ĐBSCL còn bị đánh giá kém phát triển nhất trong 7 vùng du lịch cả nước. Trên thực tế, hoạt động du lịch chưa tập trung xây dựng các sản phẩm đặc thù, hầu hết các địa phương đều tổ chức khai thác các sản phẩm tương tự nhau, khai thác du lịch vẫn chưa có quy mô, hạn hẹp và nhỏ lẻ. Vì thế, sản phẩm du lịch vùng ĐBSCL chưa thực sự hấp dẫn, chưa có sự khác biệt, còn thiếu tính cạnh tranh.
Ngoài ra, nguồn nhân lực du lịch qua đào tạo chỉ mới đạt khoảng 30% (Huỳnh Văn Tánh, 2016), thời gian khách lưu trú ngắn do chưa đủ hấp dẫn khiến du khách chi tiêu nhiều, cũng không giữ chân du khách được lâu, dẫn đến du lịch có số lượng khách nhiều nhưng doanh thu không cao. Do đó, việc xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của vùng trở thành vấn đề được nhiều địa phương quan tâm và mong muốn tìm được giải pháp chung để cải thiện hơn về hoạt động du lịch của vùng đồng thời gắn với việc BVMT. Vì vậy, làm sao có được sản phẩm mới, đặc thù, mang bản sắc địa phương thu hút du khách? Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long gắn với môi trường”.1 Bối cảnh nghiên cứu lý thuyết Nghiên cứu phát triển du lịch và các nhân tố tác động đến chúng đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm vì du lịch luôn được đánh giá là đây là ngành kinh tế có tiềm lực về tài chính, doanh thu, lợi nhuận và các vấn đề xã hội khác, đặc 3 biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay Rutty, M., và cộng sự (2015), Tapak, L và cộng sự (2019),. Nhiều nhà khoa học ở Việt Nam và các nước trên thế giới đã và đang cố gắng lý giải tại sao sự phát triển du lịch phải hướng đến sự bền vững mà một trong những yếu tố quan trọng là phải bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ văn hóa bản địa và đếm lại lợi ích cộng đồng… đó cũng là quyết tâm của Việt Nam trong nỗ lực thực hiện cam kết tại COP26, đưa mức phát ròng về “0” vào năm 2050.
Đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến phát triển du lịch gắn với môi trường, tuy nhiên đây vẫn là mảng đề tài thu hút được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở các khía cạnh khác nhau. Đặc biệt, sau thời kỳ dịch bệnh Covid-19, với đặc thù của bối cảnh du lịch có sự thay đổi nhất định (Duro, J. A, và cộng sự, 2021) do đó việc nghiên cứu vấn đề này tại địa phương có tiềm năng phát triển ở Việt Nam đang rất được quan tâm. Cụ thể: Ở khía cạnh du lịch bền vững, hầu hết các nghiên cứu đề cập đến khía cạnh rộng hơn trong kinh tế, sản phẩm, chính sách, nguồn nhân lực, v.
Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả chỉ tập trung vào phát triển du lịch gắn với môi trường. Trong đó, tất cả biến tập trung tác động phát triển du lịch gắn liền với môi trường sẽ được xem xét một cách đầy đủ và thấu đáo. Do vậy, tác giả sắp xếp thứ tự một số nghiên cứu và trình bày nội dung thể hiện mối liên hệ giữa phát triển du lịch bền vững và PTDL gắn liền với môi trường. Nhìn chung, một số nghiên cứu đi vào làm rõ khái niệm và bản chất của du lịch gắn với môi trường nhưng hiện nay vẫn còn nhiều bất đồng.
Ngoài ra, ở góc độ ứng dụng làm thế nào để phát triển du lịch dựa trên sự khai thác các yếu tố tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa của từng địa phương hiện đang có nhiều hướng khác nhau. Nghiên cứu theo hướng này có một số công bố tiêu biểu như: Quan điểm thứ 1: đánh giá thực trạng, tiềm năng, định hướng phát triển: (1) Nguyễn Hoàng Phương (2018), “Phát triển du lịch vùng ĐBSCL trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, tác giả đã phân tích rõ các nhân tố tác động đến phát triển du lịch ĐBSCL trong thời kỳ hội nhập, bao gồm: phát triển sản phẩm du lịch vùng ĐBSCL, phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch vùng, đầu tư và thu hút đầu tư để phát triển du lịch của vùng, hoạt động đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển du lịch của vùng, hợp tác quốc tế về du lịch, đảm bảo môi trường sinh thái trong phát triển du lịch vùng, đảm bảo an ninh và an toàn trong phát triển du lịch, và vai trò quản lý của nhà nước đối với phát triển 4 du lịch của vùng. Từ đó, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng cho PTDL của vùng ĐBSCL. Phân tích rõ tác động của hội nhập quốc tế đối với phát triển du lịch vùng ĐBSCL, mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch với việc phát triển các sản phẩm du lịch trên cơ sở lợi thế của vùng để PTDL trong hội nhập quốc tế.
(2) Hà Quang Thanh (2020), “Phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, tác giả đề cập đến những yếu tố thuận lợi cho việc PTDL tại ĐBSCL như: Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của Vùng; Những thuận lợi về yếu tố thiên nhiên trong phát triển du lịch; Thuận lợi về các giá trị văn hóa, con người. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc phát triển du lịch của Vùng như: phải tuân thủ các cam kết quốc tế, đảm bảo phát triển bền vững; Tích cực chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho tiến trình phát triển du lịch; Đầu tư thích đáng về cơ sở hạ tầng; Cần nhanh chóng thích ứng với biến đổi khí hậu; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; vừa liên kết hợp tác, vừa cạnh trạnh tạo hiệu quả cao trong phát triển du lịch, từng bước hình thành thế mạnh của vùng trong phát triển du lịch.