Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng progesterone ngày thứ 6 sau động dục ở bò sữa

Luận văn thạc sĩ vnua phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng progesterone ở bò sữa ngày thứ 6 sau động dục phục vụ cấy truyền phôi.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. Lời cam đoan

1.2. Mục lục

1.3. Danh mục viết tắt

1.4. Danh mục bảng

1.5. Danh mục hình

1.6. Trích yếu luận văn

1.7. Mục tiêu của đề tài

1.8. Ý nghĩa của đề tài

1.9. Tổng quan tài liệu

1.10. Một số đặc tính sinh lý sinh sản của bò cái

1.11. Sự thành thục về tính

1.12. Công nghệ cấy truyền phôi

1.13. Vai trò và ứng dụng của progesterone

1.14. Hoạt động của progesterone trong cơ thể. Biến động hàm lượng progesterone ở bò cái

1.15. Các cơ chế tác động của progesterone

1.16. Ứng dụng của progesterone trong chăn nuôi thú y

1.17. Gây đồng pha để cấy truyền phôi

1.18. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.19. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

1.20. Nội dung nghiên cứu

1.21. Phương pháp nghiên cứu

1.22. Kết quả và thảo luận

1.22.1. Kết quả lựa chọn bò để gây động dục

1.22.2. Kết quả gây động dục trên bò thí nghiệm bằng phương pháp ovsynch + cidr

1.22.3. Ảnh hưởng của yếu tố lứa đẻ tới tỷ lệ động dục

1.22.4. Ảnh hưởng của yếu tố tuổi tới tỷ lệ động dục

1.22.5. Ảnh hưởng của yếu tố điểm thể trạng (bcs) tới tỷ lệ động dục

1.22.6. Kết quả định lượng progesterone vào ngày thứ 6 sau động dục

1.22.7. Tỷ lệ bò có nồng độ progesterone huyết thanh >3ng/ml theo lứa đẻ

1.22.8. Tỷ lệ bò có nồng độ progesterone huyết thanh ≥3ng/ml theo lứa tuổi

1.22.9. Tỷ lệ bò có nồng độ progesterone huyết thanh ≥3ng/ml theo điểm thể trạng

1.23. Kết luận và Kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về nồng độ progesterone ở bò sữa sau động dục

Nồng độ progesterone là một yếu tố quan trọng trong quá trình sinh sản của bò sữa. Hormone này đóng vai trò quyết định trong việc duy trì thai kỳ và ảnh hưởng đến khả năng thụ thai. Nghiên cứu cho thấy nồng độ progesterone có thể thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm chế độ dinh dưỡng, tuổi tác, và môi trường sống. Việc hiểu rõ về nồng độ progesterone sẽ giúp cải thiện hiệu quả trong công tác cấy truyền phôi.

1.1. Vai trò của progesterone trong sinh sản bò sữa

Progesterone được sản xuất chủ yếu bởi thể vàng trong buồng trứng. Hormone này giúp chuẩn bị niêm mạc tử cung cho việc tiếp nhận hợp tử. Nếu không có đủ progesterone, khả năng mang thai sẽ giảm đáng kể.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ progesterone

Nồng độ progesterone có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, stress, tuổi tác và giống bò. Việc theo dõi và điều chỉnh các yếu tố này là cần thiết để tối ưu hóa nồng độ hormone này.

II. Thách thức trong việc duy trì nồng độ progesterone ở bò sữa

Việc duy trì nồng độ progesterone ổn định là một thách thức lớn trong chăn nuôi bò sữa. Nhiều yếu tố có thể gây ra sự biến động trong nồng độ hormone này, dẫn đến giảm khả năng thụ thai. Các vấn đề như stress, chế độ dinh dưỡng không hợp lý và điều kiện môi trường có thể làm giảm nồng độ progesterone.

2.1. Ảnh hưởng của stress đến nồng độ progesterone

Stress có thể làm giảm sản xuất progesterone trong cơ thể bò sữa. Các nghiên cứu cho thấy bò bị stress có nồng độ hormone thấp hơn, ảnh hưởng đến khả năng thụ thai.

2.2. Tác động của chế độ dinh dưỡng đến hormone sinh sản

Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ có thể dẫn đến thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết cho việc sản xuất progesterone. Việc cung cấp đủ protein, vitamin và khoáng chất là rất quan trọng.

III. Phương pháp cải thiện nồng độ progesterone ở bò sữa

Để cải thiện nồng độ progesterone, có thể áp dụng một số phương pháp như điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, quản lý stress và sử dụng hormone bổ sung. Những phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc tăng cường khả năng sinh sản của bò sữa.

3.1. Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho bò sữa

Cung cấp chế độ dinh dưỡng hợp lý với đủ protein và vitamin có thể giúp tăng cường sản xuất progesterone. Các nghiên cứu cho thấy bò được nuôi dưỡng tốt có nồng độ hormone cao hơn.

3.2. Quản lý stress trong chăn nuôi

Giảm thiểu stress cho bò sữa thông qua việc cải thiện điều kiện sống và chăm sóc có thể giúp duy trì nồng độ progesterone ổn định. Các biện pháp như tạo không gian thoải mái và giảm tiếng ồn có thể có tác động tích cực.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong nghiên cứu nồng độ progesterone

Nghiên cứu về nồng độ progesterone không chỉ giúp cải thiện tỷ lệ mang thai mà còn có thể áp dụng trong công nghệ cấy truyền phôi. Việc theo dõi nồng độ hormone này có thể giúp xác định thời điểm thích hợp để cấy phôi, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất.

4.1. Theo dõi nồng độ progesterone trong cấy truyền phôi

Việc định lượng nồng độ progesterone vào ngày thứ 6 sau động dục là rất quan trọng để quyết định thời điểm cấy phôi. Nghiên cứu cho thấy bò có nồng độ hormone cao hơn có tỷ lệ thành công cao hơn trong cấy truyền phôi.

4.2. Kết quả nghiên cứu về nồng độ progesterone

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ progesterone cao hơn 3ng/ml vào ngày thứ 6 sau động dục có liên quan đến tỷ lệ mang thai cao hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc theo dõi hormone này trong chăn nuôi.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu nồng độ progesterone

Nghiên cứu về nồng độ progesterone ở bò sữa là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sinh sản. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng và áp dụng các phương pháp cải thiện sẽ giúp tăng cường khả năng thụ thai và thành công trong cấy truyền phôi. Tương lai của nghiên cứu này hứa hẹn sẽ mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong ngành chăn nuôi.

5.1. Tương lai của nghiên cứu nồng độ progesterone

Nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các phương pháp mới để theo dõi và điều chỉnh nồng độ progesterone. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi bò sữa.

5.2. Ứng dụng công nghệ mới trong nghiên cứu

Sử dụng công nghệ sinh học và các phương pháp phân tích hiện đại có thể giúp cải thiện việc theo dõi nồng độ progesterone và tối ưu hóa quy trình cấy truyền phôi.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnua các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng progesterone ngày thứ 6 sau động dục ở bò sữa phục vụ cấy truyền phôi

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đã có gần 100 năm nghiên cứu lai tạo bò thịt, bắt đầu từ đàn bò Sind đỏ (Red Sindhi) được nuôi tại các đồn điền của người Pháp, phát tán ra các vùng xung quanh hình thành con bò lai Sind. Bò có màu sắc đẹp, vóc dáng lớn hơn, thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm và chịu kham khổ tốt. Năm 1960 – 1970, kế hoạch Sind hoá đàn bò được khởi xướng. Năm 1980, chúng ta chủ động nhập bò Red Sindhi và Sahiwal để tạo bò lai.

Đến năm 2003, bò lai Zebu chiếm tới 30% tổng đàn bò, cung cấp nguồn gene quý cho những nghiên cứu lai kinh tế bò địa phương với giống bò thịt chuyên dụng. Từ những năm 1975, tinh các giống bò thịt ôn đới nổi tiếng như Brahman, Droughmaster, Charolais… đã được phối cho đàn bò lai Sind, cho ra đời các thế hệ F1 thể hiện khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện chăn nuôi còn khó khăn tại Việt Nam. Tuy nhiên, đàn bò lai F1 này vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng thịt bò ngày càng tăng của người dân. Trong 7 tháng đầu năm 2013, Việt Nam nhập khẩu khoảng 120.000 bò Úc, tăng hơn 50% so với cả năm 2012 (Hội chăn nuôi, 2015).

Do vậy, việc chọn lựa giống bò thịt chuyên dụng phù hợp để cải tạo đàn bò theo hướng tăng nhanh số lượng và tăng năng suất sản xuất thịt trên một đầu bò là cần thiết. Ở Việt Nam, công nghệ cấy truyền phôi đã được thực hiện tại Viện khoa học Việt Nam từ năm 1978 và ở Viện chăn nuôi từ năm 1989 (Nguyễn Đức Thạc và cs. Đến năm 1990, ca cấy phôi đầu tiên đã thành công bằng phương pháp cấy truyền phôi tươi in- vivo tại xí nghiệp bò Phù Đổng (Hoàng Kim Giao và cs. Tuy nhiên, các tác giả trước đây sử dụng phương pháp gây động dục đồng pha trên bò nhận phôi trước khi cấy truyền, kết hợp với khám lâm sàng qua trực tràng để đánh giá sự hình thành thể vàng, do rất nhiều bò nhận phôi có biểu hiện động dục nhưng không xảy ra hiện tượng rụng trứng, dẫn tới không hình thành thể vàng để tiết progesterone (hormone an thai), nên tỷ lệ cấy truyền phôi thành công còn thấp.

Do đó, chúng tôi đi tiến hành nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng Progesterone ngày thứ 6 sau động dục ở bò sữa phục vụ cấy truyền phôi” nhằm tăng tỷ lệ cấy truyền phôi thành công. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng progesterone ngày thứ 6 sau động dục để tăng tỷ lệ mang thai trong công nghệ cấy truyền phôi bò. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Xây dựng tiêu chuẩn trong chọn lựa bò để nhận phôi, nâng cao hiệu quả cấy truyền phôi.

Mở rộng ứng dụng công nghệ phôi trong phát triển và nhân nhanh đàn bò. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH LÝ SINH SẢN CỦA BÒ CÁI 2.

Sự thành thục về tính Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển đến mức độ hoàn thiện, buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử cung cũng phát triển theo và đủ điều kiện cho thai phát triển trong tử cung. Những dấu hiệu động dục xuất hiện đối với gia súc ở thời kì này gọi là thành thục về tính. Trong thực tế, thành thục về tính xuất hiện trước khi thành thục về thể vóc. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, thể trạng, ngoại cảnh, chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng.

Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh trưởng được thúc đẩy và thành thục về tính sẽ đến sớm hơn. Bò sữa thành thục về tính khi thể trọng đạt từ 30-40% thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt thì mức độ cao hơn 45-50%. Chu kỳ động dục Sau khi thành thục về tính, hiện tượng rụng trứng xảy ra. Mỗi lần rụng trứng có sự tham gia của nhiều loại hormone, các hormone này làm con vật có biểu hiện động dục.

Các noãn bào trên buồng trứng gọi là nang Graff. Khi nang Graff vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng. Trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng có chu kỳ, một chu kỳ động dục của bò thông thường là 21 ngày (giao động từ 18-24 ngày). Quá trình trứng phát triển đến chín và rụng đều chịu sự điều hoà chặt chẽ của hormone, do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã phân chia chu kỳ động dục của bò thành 2 pha chính: Pha Folliculin: gồm toàn bộ biểu hiện trước khi rụng trứng.

Pha Lutein: Là những biểu hiện sau khi rụng trứng và hình thành thể vàng. Trong chu kỳ sinh dục, ở các đường sinh dục của gia súc (ống dẫn trứng, tử cung, cổ tử cung và âm đạo) thấy có nhịp điệu tương ứng với các giai đoạn phát triển của noãn bao. Thể vàng, buồng trứng tạo ra và điều khiển nhịp điệu ấy nhờ tiết hormone estrogen và progesterone. Estrogen do noãn bao đã thành thục tiết làm tăng thể tích các mao mạch nhỏ nhất trong niêm mạc đường sinh dục, từ đó làm tăng nguồn máu, kích thích sự phân chia tế bào trong nội mạc tử cung.

Kết quả là giai đoạn đầu của chu kỳ, niêm mạc đường sinh dục có màu đỏ với mức độ ngày càng tăng, hơi phù và tế bào cơ tử cung lớn lên. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau khi estrogen kích thích tế bào niêm mạc, cổ tử cung tiết ra chất nhầy loãng chảy từ âm hộ ra ngoài cùng với niêm dịch âm đạo. Estrogen tạo khả năng cho những quá trình phân chia và sinh trưởng tế bào rất nhanh trong biểu mô âm đạo. Estrogen được hấp thu vào máu còn tác động đến toàn bộ cơ thể, đặc biệt là thần kinh trung ương, làm thay đổi các hoạt động của gia súc cái như kém ăn, ngơ ngác, kêu rống, nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên và có tư thế chịu đực.

Sau khi tế bào trứng rụng, những biểu hiện động dục do estrogen gây ra biến mất, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo ngừng tiết niêm dịch, chất nhầy chảy ra giảm. Cơ cổ tử cung hồi phục sức căng và dần đóng kín lại như cũ. Niêm mạc âm đạo mất một phần khối lượng do nó sừng hóa tế bào biểu mô. Sau khi hình thành thể vàng, hormone progesterone sinh ra và ảnh hưởng tới đường sinh dục.

Dưới tác dụng của progesterone niêm mạc tử cung đã được estrogen chuẩn bị trước, được tổ chức để tiếp nhận và nuôi dưỡng hợp tử. Biểu mô, nội mạc tử cung bắt đầu tăng lên và chứa nhiều nguyên liệu để hình thành chất tiết. Các tuyến của nội mạc tử cung cũng bắt đầu lớn lên mạnh trở thành uốn khúc và bắt đầu tiết dịch khi thể vàng đạt được hoạt tính tối đa. Các chất tiết này sẽ được hợp tử hấp thu cho đến khi làm tổ.

Ở bò chu kỳ động dục thường kéo dài 21 ngày, thời gian động dục thường kéo dài 25-36 giờ. Chu kỳ động dục của bò chia thành 4 giai đoạn là trước động dục, động dục, sau động dục và cân bằng sinh học. Giai đoạn trước động dục (Pre-oestrus), đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục, noãn bao thành thục nổi rõ lên bề mặt của buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường, các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng sinh, số lượng lông nhung cũng tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhầy tử cung cũng tăng lên, các dịch nhầy ở âm đạo nhiều, niêm dịch cổ tử cung tiết ra kích thích cho cổ tử cung hé mở, các tuyến ở đường sinh dục tăng cường hoạt động.

Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao, dần dần noãn bao chín tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn, bộ phận sinh dục phù thũng, niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều nhất, con vật bắt đầu xuất hiện tính dục. Những biến đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng vào đường sinh dục cái để thụ tinh với tế bào trứng. Giai đoạn này con vật bồn chồn, đi lại, đái rắt, kém ăn, nhảy lên con khác, âm hộ sưng nhẹ, xung huyết, bóng ướt, niêm dịch chảy ra nhiều, lỏng, trong suốt dễ đứt (kéo dài 1-2 cm). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn động dục (Oestrus): Khi gia súc xuất hiện tính dục, tế bào trứng đã tách khỏi noãn nang, toàn bộ cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt biến đổi về sinh lý.

Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc sung huyết, niêm dịch trong suốt từ âm đạo chảy ra nhiều. Cuối giai đoạn này tính hưng phấn của con vật cao độ, gia súc ở trạng thái không yên tĩnh, ăn uống giảm rõ rệt, chạy, kêu rống, phá chuồng, đứng ngẩn ngơ, nhảy lên lưng con khác hay để con khác nhảy lên lưng, đái dắt, thích gần con đực, xuất hiện các tư thế của phản xạ giao phối, hai chân sau dạng ra, đuôi cong về một bên. Các biểu hiện đó tạo điều kiện thuận lợi cho tế bào trứng được gặp tinh trùng để thụ tinh và phát triển hợp tử trong tử cung. Giai đoạn này nếu tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng và được thụ thai thì chu kỳ sinh dục sẽ dừng lại, gia súc cái ở giai đoạn có thai và đến một thời gian sau khi sinh đẻ xong chu kỳ tính mới xuất hiện trở lại.

Trường hợp tế bào trứng không được thụ thai thì nó sẽ chuyển sang giai đoạn sau của chu kỳ. Giai đoạn sau động dục (Post-oestrus): Progesterone tác động lên hệ thần kinh trung ương và tuyến yên, lên trung khu sinh dục, làm thay đổi tính hưng phấn, kết thúc giai đoạn động dục. Niêm mạc sinh dục như âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng cũng ngừng tăng sinh, tử cung cũng không tiết niêm dịch, các tế bào biểu mô dần dần bị sừng hóa, các biểu mô ở tầng nhầy bong ra, biểu mô hóa sừng trong âm đạo long dần ra để trở lại trạng thái bình thường, cổ tử cung đóng chặt lại. Ở giai đoạn này con vật còn chịu cho nhảy và phối giống (một thời gian ngắn), con vật ăn ít, âm hộ hết sưng.

Giai đoạn cân bằng sinh học (An, Di-oestrus): Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc yên tĩnh hoàn toàn, hoạt động các cơ quan sinh dục không biểu hiện rất rõ rệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ