Phần mở đầu - Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, cấu trúc luận văn. Chương 2 Cơ sở lý thuyết - Trình bày tổng quan các lý thuyết về nghèo đói liên quan đến khái niệm, thước đo chỉ số nghèo, các phương pháp xác định nghèo, nguyên nhân nghèo và đặc điểm nghèo. Chương 3 Thực trạng nghèo của huyện Thạnh Hóa và xây dựng mô hình nghiên cứu - Mô tả sơ lược về vùng nghiên cứu, khung lý thuyết làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu nghèo cho huyện. Chương 4 Kết quả nghiên cứu.
Chương 5 Kết luận và gợi ý chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về nghèo Nghèo không có một khái niệm duy nhất. Có thể hiểu nghèo là tình trạng thiếu thốn về nhiều mặt như thiếu cơ hội tạo thu nhập, thu nhập còn hạn chế, thiếu tài sản thiết yếu, dễ bị tổn thương trong các mối quan hệ,.
Theo Ngân hàng thế giới, qua thời gian cũng có những cách tiếp cận khác nhau trong báo cáo của mình. Năm 1990, định nghĩa nghèo đói của tổ chức này bao gồm tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như dịch vụ y tế, giáo dục, dinh dưỡng. Đến năm 2000 và 2001, Ngân hàng thế giới thêm vào khái niệm tình trạng gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn thương: Xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng, nghèo có nghĩa là đói không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường. Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế.
Người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt bên lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế đó. Tại Hội nghị thượng định thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 định nghĩa "Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD một ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ để mua sản phẩm thiết yếu để tồn tại (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007) Theo Đinh Phi Hổ (2006), bản thân khái niệm nghèo nó cũng bao hàm mức độ nghèo khác nhau, vì trong các nhóm dân cư có người thuộc nhóm nghèo nhưng chưa phải là nghèo nhất trong xã hội mà bị rơi vào tình trạng đói kém. Do đó, cách tiếp cận khác nhau về tình trạng thiếu thốn sẽ phân biệt ngưỡng nghèo khác nhau.
Tại Việt Nam, Chính phủ đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng-Cốc (Thái Lan) năm 1993 "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương" (trích theo Nguyễn Trọng Hoài, 2007). Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng. Như vậy, tất cả những định nghĩa về nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo: Một là, không được thụ hưởng những yêu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người trong cộng đồng xã hội đó.
Hai là, có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. Ba là, thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Phân loại nghèo 2. Nghèo tuyệt đối Theo Ngân hàng thế giới, khái niệm nghèo tuyệt đối được hiểu là một người hoặc một bộ phận gia đình khi mức thu nhập của họ thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu được quy định bởi một quốc gia hoặc tổ chức quốc tế trong khoảng thời gian nhất định.
Nghèo tương đối Nghèo tương đối là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương. Theo Đinh Phi Hổ (năm 2006), nghèo tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội xét theo không gian và thời gian nhất định. Như vậy, nghèo tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người. Ở bất kỳ xã hội nào, luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội.
Do đó, theo khái niệm này thì người nghèo tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển kinh tế nào. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Liên hợp quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá mức sống của con người bao gồm cả thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người, thành tựu y tế-xã hội và trình độ văn hóa giáo dục, tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người (HDI). Các phương pháp xác định đối tượng nghèo 2. Dựa vào tiêu chí chi tiêu hộ gia đình Những hộ gia đình có mức chi tiêu đầu người không đảm bảo đủ 2100 Kcalo/ngày theo tiêu chuẩn Ngân hàng thế giới thì thuộc diện nghèo.
Phương pháp này được áp dụng tại các cuộc điều tra mức sống dân cư hoặc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục thống kê thực hiện. Việc thu thập số liệu điều tra về chi tiêu sẽ tương đối chính xác hơn tiêu chuẩn thu nhập, vì người dân thường dễ dàng cung cấp thông tin về chi tiêu của hộ hơn là các khoản thu nhập. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là mức chi tiêu đôi khi không phản ánh được tình trạng nghèo hay sung túc, đó là trường hợp hộ gia đình có mức thu nhập thấp nhưng chi tiêu lớn hơn thu nhập nên phải vay tiền để chi tiêu, từ đó dẫn đến nợ nần, lâm vào cảnh nghèo. Dựa vào tiêu chí thu nhập hộ gia đình Thu nhập càng thấp thì mức độ nghèo càng tăng.
Hiện nay, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí thu nhập hộ gia đình để đánh giá nghèo cũng chưa chính xác, đặc biệt là việc thu thập số liệu qua phỏng vấn hộ gia đình, do người dân không nhớ rõ hoặc có tâm lý không muốn khai báo đủ thu nhập. Phương pháp xếp hạng giàu nghèo Phương pháp này thực hiện thông qua thảo luận nhóm nhằm chọn lựa những hộ nghèo. Những người tham gia bình chọn gồm có chính quyền địa phương và đại diện cộng đồng như: già, trẻ, nam, nữ, người nghèo, người giàu. Nhóm tự đưa ra đặc tính nghèo, sau đó chính quyền phát phiếu ghi tên những hộ trong ấp cho đại biểu tham dự để phân loại hộ vào các mức nghèo, trung bình, khá, giàu.
Phương pháp này có tính khách quan và toàn diện. Tuy nhiên, phương pháp này tốn nhiều chi phí. Phương pháp vẽ bản đồ Phương pháp này được nhóm tác chiến bản đồ nghèo liên Bộ sử dụng để ước lượng các chỉ số nghèo cấp xã, huyện và tỉnh ở Việt Nam. Phương pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng của tổng điều tra dân số.
Theo đó các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu hộ gia đình mà còn các biến khác như: qui mô, trình độ học vấn của các thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản hộ gia đình. Phương pháp vẽ bản đồ gắn hai cuộc điều tra thông qua ba giai đoạn cụ thể. Giai đoạn thứ nhất liên quan đến việc xác định các biến mô tả các đặc điểm của hộ có thể liên quan đến chi tiêu và nghèo có cả trong điều tra hộ gia đình và tổng điều tra dân số cùng thời kỳ. Giai đoạn thứ hai là đo lường phúc lợi.
Chi tiêu bình quân đầu người được ước lượng bằng hàm hồi qui của các đặc điểm hộ theo số liệu điều tra hộ gia đình. Giai đoạn thứ ba, dùng kết quả hồi qui để ước tính chi tiêu hộ gia đình theo kết quả tổng điều tra dân số và mức chi tiêu dự báo này được dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Về mặt này vẽ bản đồ nghèo vẫn là một phương pháp dựa vào chi tiêu, nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ không phải là chi tiêu của hộ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Tuy nhiên, phương pháp này cho kết quả không hoàn toàn chính xác.
Mặt khác trong giai đoạn thứ hai, những đặc điểm của hộ không thể ước tính giá trị chi tiêu một cách hoàn hảo được, đồng thời có sự khác nhau giữa các hộ điều tra mức sống và các hộ trong điều tra dân số. Do đó, chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với hai số. Một số lý thuyết về nghèo 2. Lý thuyết về nông nghiệp với phát triển kinh tế Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động nông nghiệp có từ lâu đời, nên được coi là lĩnh vực sản suất truyền thống. Hoạt động này không những gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã hội mà còn gắn liền với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp xét theo đối tượng sản xuất sẽ bao gồm các ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Mọi nỗ lực xóa nghèo đói và bất bình đẳng về thu nhập ở các nước đang phát triển cũng chưa đủ hiệu ứng để thúc đẩy phát triển kinh tế.