Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết về thương hiệu, giá trị thương hiệu, đề cập đến các nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đề xuất mô hình lý thuyết và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu Chương 3: Trình bày thiết kế nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sử dụng để điều chỉnh thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề xuất. Chương 4: Kết quả nghiên cứu sẽ trình bày kết quả kiểm định độ tin cậy và đánh giá mô hình thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy bội, kiểm định T – test và phân tích Anova. Chương 5: Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, đề xuất một số gợi ý cho nhà quản trị đồng thời nêu lên những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 10 Các nội dung tiếp theo sẽ lần lượt trình bày các cơ sở lý thuyết, các giả thuyết, các mô hình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, kết quả nghiên cứu và cuối cùng là phần thảo luận kết quả.
11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Thương hiệu (Brand) Theo Moore (2003), “thương hiệu (brand) là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý lẻ và cảm xúc của một sản phẩm hoặc một dòng sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, logo, “hình ảnh” và mọi sự thể hiện hình ảnh, dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí khách hàng nhằm tái thiết lập một chổ đứng tại đó”. “Thương hiệu không chỉ đơn thuần là một dấu hiệu nhận biết. Với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của ngành thương mại và dịch vụ.
Thuật ngữ thương hiệu không chỉ với ý nghĩa đơn thuần như cũ mà nó có nghĩa rộng lớn hơn nhiều” (Richard More 2009). Ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác nhau về thương hiệu, có thể chia thành hai quan điểm chính (1) Quan điểm truyền thống “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký hiệu, kiểu dáng hay một sự phối hợp của các yếu tố trên nhằm mục đích để nhận dạng sản phẩm hay dịch vụ của một nhà sản xuất và phân biệt với các thương hiệu của đối thủ cạnh tranh” (Bennet 1995). Với quan điểm này, thương hiệu được xem như là một thành phẩm của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp mình với sản phẩm cạnh tranh cùng loại. Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng quan niệm tổng hợp về thương hiệu để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu mạng di động, (2) Quan niệm tổng hợp về thương hiệu cho rằng thương hiệu không chỉ là một cái tên hay một biểu tượng mà nó còn phức tạp hơn nhiều (Davis, 2002).
Nó là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Theo quan điểm này, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, làm nhiệm vụ cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng và nó chỉ là một thành phần của sản phẩm và thực tiễn chấp nhận. Lý do là người tiêu dùng luôn mong muốn được thỏa mãn cả hai nhu cầu là nhu cầu về chức năng (functional 12 needs) và nhu cầu về tâm lý (psychologital needs). Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng lợi ích chức năng còn thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai (Hankinson & Cowking, 1996) Hình 2.1: Hai mô hình về mối quan hệ giữa sản phẩm và thương hiệu Thương hiệu là một phần của Sản phẩm là một phần của sản phẩm thương hiệu SẢN PHẨM THƯƠNG HIỆU Thương hiệuhiệu Thương Sản phẩm Nguồn: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2008) 2.
Giá trị thương hiệu So với khái niệm “Thương hiệu” đã được biết từ rất lâu trên thế giới thì khái niệm “Giá trị thương hiệu” chỉ mới xuất hiện vào đầu những năm 80 nhưng nó đã tạo được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nhân trên thế giới. Chính vì sự quan tâm này mà trên thế giới có khá nhiều quản điểm và cách đánh giá khác nhau về giá trị thương hiệu. Có thể chia thành hai nhóm quan điểm chính: Đánh giá theo quan điểm đầu tư hay tài chính và đánh giá theo quan điểm khách hàng. Đánh giá thương hiệu theo quan điểm tài chính đóng góp vào việc đánh giá tài sản của một công ty, tuy nhiên nó không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc vận dụng và phát triển giá trị của một thương hiệu.
Hơn nữa, về mặt marketting giá trị tài chính của một thương hiệu là kết quả đánh giá của khách hàng về giá trị của thương hiệu đó. Đứng từ góc độ ứng dụng trong nghiên cứu thì việc đánh giá 13 giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng sẽ giúp cho nhà quản trị nhận ra gốc rễ của vấn đề để phát triển thương hiệu theo cách hiệu quả hơn. Vì vậy, nghiên cứu này tập trung vào quan điểm thứ hai – đánh giá giá trị thương hiệu dựa vào khách hàng. Theo David Aaker (1991) thì tài sản thương hiệu là một tập hợp các tài sản mang tính vô hình gắn với tên và biểu tượng của một thương hiệu, nó góp phần tăng hoặc giảm giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ nối với công ty và nối với khách hàng của công ty.
Các thành phần chính của tài sản thương hiệu nó là: sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính thương hiệu, sự trung thành thương hiệu và cuối cùng là các tài sản khác. Theo Keller (2003) cho rằng giá trị thương hiệu chính là kiến thức của khách hàng về thương hiệu. Kiến thức này bao gồm 2 phần: sự nhận biết thương hiệu và ấn tượng thương hiệu. Một thương hiệu có giá trị cao khi khách hàng nhận biết nhiều về nó cũng như có ấn tượng tốt về những thuộc tính mà nó cung cấp đem lại lợi ích cho khách hàng.
Tại VN năm 2002, Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang đã dựa trên mô hình các thành phần của giá trị thương hiệu của Aaker và các nhà nghiên cứu trên thế giới để ứng dụng, nghiên cứu các thành phần của giá trị thương hiệu và phát triển thang đo các thành phần này cho thị trường tiêu dùng tại Việt Nam, lấy dầu gội là sản phẩm nghiên cứu. Sau khi đưa vào nghiên cứu Thọ &ctg đã xây dựng mô hình, các thang đo phù hợp với mức độ phát triển về thương hiệu chưa cao và mức độ phức tạp, mua sắm trong tiêu dùng còn thấp như ở nước ta. Và đưa ra 3 thành phần của giá trị thương hiệu: nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, lòng đam mê thương hiệu. Chính từ mô hình nghiên cứu này đã tạo ra những hướng nghiên cứu sâu hơn các thành phần của giá trị thương hiệu và các phương pháp đo lường các thành phần giá trị thương hiệu tại Việt Nam và được nhiều học viên cao học ứng dụng cho thị trường bia Sài Gòn, nước tinh khiết, tivi… Như vậy qua đây ta nhận thấy có khá nhiều tác giả có những khái niệm khác nhau về giá trị thương hiệu, đây là một khái niệm phức tạp và đa thành phần.
Cho đến nay các nhà nghiên cứu chưa đưa ra được một sự thống nhất cao về các thành 14 phần của giá trị thương hiệu. Mặt khác, có sự khác biệt về thành phần giá trị thương hiệu giữa thị trường tiêu dùng và thị trường hàng công nghiệp, hay giữa thị trường sản phẩm vô hình và hữu hình. Do đó, việc xác định biến nào là biến thành phần của giá trị thương hiệu và biến nào là biến nguyên nhân và kết quả của giá trị thương hiệu không phải là việc làm đơn giản và dễ dàng. Tuy nhiên tựu chung lại thì ta nhận thấy rằng giá trị thương hiệu bao gồm thành phần cơ bản sau: sự nhận biết thương hiệu; chất lượng cảm nhận; thuộc tính thương hiệu; sự trung thành thương hiệu; các giá trị khác.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu Cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ và sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà cung cấp thì ngày nay lòng trung thành thương hiệu đã trở thành vấn đề quan trọng mà các công ty cung cấp dịch vụ đặc biệt quan tâm.
Do đó, hiện nay có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu trong thị trường viễn thông nhằm nhận diện đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng, từ đó có biện pháp nhằm giữ chân, duy trì và gia tăng lòng trung thành của khách hàng. Nghiên cứu “Impact of brand image, trust and affect on consumer brand extension attitude: the mediating role of brand loyalty” của Ayesha Anwar & Amir Gulzar (2011) đã chứng minh hình ảnh thương hiệu, uy tín thương hiệu và lòng ham muốn thương hiệu là những yếu tố có ảnh hưởng và có tác động dương đến trung thành thương hiệu của người tiêu dùng nữ sử dụng các thương hiệu Body shop và Revelon ở Pakistan. Khi các yếu tố trên được tăng cường thì nó làm cho trung thành thương hiệu tăng và bền vững hơn, nó có tác động tích cực rất lớn đến thái đô của người tiêu dùng. Giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng mở rộng quy mô cũng như doanh thu trên các thị trường khác.Boerhannoeddin đã tiến hành nghiên cứu “Customer Loyalty: The case of mobile phone users in universiti utara Malaysia” chỉ ra ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ, sự hài lòng khách hàng và hình ảnh thương hiệu lên lòng trung thành thương hiệu của khách hàng bắt nguồn từ các 15 mối quan hệ tích cực giữa chất lượng dịch vụ và các yếu tố như hình ảnh thương hiệu và các chi phí chuyển đổi.
Kết quả cho thấy yếu tố chất lượng dịch vụ và chi phí chuyển đổi ảnh hưởng tích cực đến lòng trung thành của khách hàng và nó là yếu tố quan trọng để dự báo lòng trung thành của khách hàng. Vào năm 2013, Shehzad Ahmed & ctg đã tiến hành một nghiên cứu “Factors Influencing the Cell Phone Brand Loyalty of Swedish Generation Y”. Nghiên cứu này được tiến hành tại Thụy Điển và đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành thương hiệu điện thoại di động lên thế hệ thứ Y tại Thụy Điển. Các yếu tố như hình ảnh thương hiệu, chất lượng cảm nhận, kinh nghiệm thương hiệu, sự hài lòng khách hàng và chi phí chuyển đổi được xem xét có tác động như thế nào đến lòng trung thành thương hiệu của thế hệ thứ Y (thế hệ được sinh ra từ 1977 – 1995).