Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾT QUẢ HỌC TẬP 1. Lịch sử nghiên cứu kết quả học tập 1. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Huỳnh Quang Minh (2002) khảo sát về các nhân tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên chính quy Trường đại học Nông lâm TP. Kết quả nghiên cứu (với mức ý nghĩa 10% ) cho thấy điểm bình quân của giai đoạn 2 của sinh viên được xác định bởi mức độ tham khảo tài liệu, thời gian học ở lớp, thời gian tự học, điểm bình quân trong giai đoạn đầu, số lần uống rượu trong một tháng và điểm thi tuyển sinh.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Mai Trang, Nguyễn Đình Thọ và Mai Lê Thúy Vân (2008) về các yếu tố chính tác động vào kiến thức thu nhận của sinh viên khối ngành kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy, động cơ học tập của sinh viên tác động mạnh vào kiến thức thu nhận được của họ, năng lực giảng viên tác động rất cao vào động cơ học tập và kiến thức thu nhận của sinh viên và cả hai yếu tố: động cơ học tập và năng lực giảng viên giải thích được 75% phương sai của kiến thức thu nhận. Tác giả Trần Lan Anh (2009) đã tìm thấy hai nhóm nhân tố liên quan đến môi trường và cá nhân tác động đến tính tích cực trong học tập của sinh viên. Võ Thị Tâm (2010) chỉ ra rằng kết quả học tập của sinh viên bị chi phối bởi nhóm yếu tố thuộc về đặc điểm của sinh viên.
Nghiên cứu ngoài nước Một số nghiên cứu đã được tiến hành ở nhiều khía cạnh trọng tâm của việc học, để xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập. Mặc dù đã có nhiều tranh luận về các yếu tố quyết định đến kết quả học tập giữa các nhà giáo dục, những nhà hoạch định chính sách, các học giả và các bên liên quan khác, nhưng nhìn chung đều đồng ý rằng các yếu tố có ảnh hưởng khác nhau (về mức độ và hướng) theo bối cảnh, ví dụ, văn hóa, tổ chức, quá trình nghiên cứu, … Vì vậy, không phải tất cả các yếu tố đều có liên quan trong một bối cảnh cụ thể, tính cấp thiết ở đây là các nghiên 6 cứu chính thức được thực hiện để xác định các yếu tố quyết định trong hoàn cảnh cụ thể, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn. Nhìn chung các nhà nghiên cứu nước ngoài xác định 4 nhóm nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên, cụ thể: Bản thân sinh viên Sali-ot (2011) chỉ ra rằng việc đạt được thành tích học tập cao tùy thuộc nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là năng lực trí tuệ và kỹ năng học tập của học sinh. Thành tích học tập của học sinh được dựa trên cách chúng dành bao nhiêu thời gian cho việc học.
Một nghiên cứu khác xem xét một số yếu tố ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh chỉ ra rằng, sở thích học tập có ảnh hưởng sâu sắc đến thành tích học tập của học sinh. Harb và El-Shaarawi (2006) cho rằng, sự phù hợp giữa sở thích học tập của học sinh và phong cách giảng dạy của giảng viên được chứng minh có tác động tích cực đến việc học của học sinh. Một số tác giả theo quan điểm tiếp cận học tập theo sở thích, đồng ý rằng giảng dạy hiệu quả chỉ có thể thực hiện nếu sở thích học tập của người học được xác định và việc giảng dạy được thiết kế phù hợp (Pashler, McDaniel, Rohrer và Bjork, 2008). “Tôi nghe và tôi quên.
Tôi thấy và tôi nhớ. Tôi làm và tôi hiểu” (Khổng Tử 551-479 BC) – đoạn trích cung cấp bằng chứng cho thấy, ngay cả từ thời xa xưa đã công nhận về sự tồn tại của các sở thích học tập khác nhau trong nhân dân. Thật vậy, Omrod (2008) kết luận rằng, một số sinh viên dường như học tốt hơn khi thông tin được trình bày bằng lời nói (người học bằng lời nói), trong khi những người khác dường như học tốt hơn khi nó được trình bày dưới dạng hình ảnh (học thị giác). Trong một nghiên cứu của Boggiano (1992), kết quả cho thấy động cơ thành tích theo hướng tích cực có ảnh hưởng đến thành tích học tập [28, 271-279].
Sikwari (2014) cũng chỉ ra rằng có một mối tương quan đáng kể giữa thành tích học tập và động cơ; Tella (2007) lại đưa ra kết luận, động cơ tác động lên thành tích học tập môn toán của học sinh trung học cùng với khía cạnh giới tính. 7 Sinh viên có động cơ cao thì việc học tập tốt hơn so với sinh viên có động cơ thấp (Tella 2007) và động cơ ở nữ cao hơn so với nam giới (Sikwari 2014). Cùng quan điểm này, một nghiên cứu khác của Boggiano et. (1991), liên quan đến sự khác biệt về giới tính trong động cơ, cho thấy động cơ bên ngoài ở nữ nhiều hơn đáng kể so với nam giới.
Trong cùng một trường hợp, nam học sinh sẽ thực hiện mọi công việc theo mức độ quan tâm của họ hơn so với nữ giới. Cụ thể là thành tích học tập ở nữ thường ít liên quan đến sự quan tâm của họ (Schiefele et. Sinh viên có động cơ cao thể hiện thành tích học tập tốt hơn. Theo Atkinson (1993), động cơ thành tích gia tăng ở học sinh là do mong muốn đạt được những gì mình thích cao hơn việc né tránh thất bại.
Những học sinh học kém thường là người thiếu động cơ thành tích. Lý thuyết động cơ thành tích cũng đã chứng minh rằng sinh viên có động cơ cao cho thấy thành tích học tập tốt hơn (Woolfolk, 1995). Trong khi đó, cả Geiser và Santelices (2007), Acato (2006), và Swart (1999) đều cho rằng điểm đầu vào phản ánh việc học tập trước đây ảnh hưởng đến kết quả học tập trong tương lai. The Universities Admission Center (2006) công bố báo cáo, các trường đại học ở Áo, nhận thấy việc lựa chọn sinh viên dựa trên thành tích học tập chung là yếu tố dự báo duy nhất mức độ thành công trong toàn bộ khóa học đại học.
Các nhà nghiên cứu đồng ý với các học giả rằng điểm đầu vào ảnh hưởng đến kết quả học tập tại trường đại học. Gia đình Theo một nghiên cứu của Hammer (2003), môi trường gia đình cũng quan trọng như những gì diễn ra trong trường học. Yếu tố quan trọng bao gồm sự tham gia của cha mẹ trong việc giáo dục con cái, cha mẹ dành bao nhiêu thời gian đọc sách cho trẻ, trẻ được phép xem tivi bao lâu và trẻ có thường chuyển trường hay không. Khoảng cách thành tích không chỉ là những gì diễn ra khi học sinh có được vào lớp học hay không, mà còn là những gì sẽ xảy ra với chúng trước và sau giờ học.
Ảnh hưởng của cha mẹ được xác định là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh. Theo Phillips (1998), giáo dục của cha mẹ và tình trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng 8 đến thành tích học tập của học sinh. Những học sinh có cha mẹ tốt nghiệp đại học thường có xu hướng đạt được trình độ học vấn cao nhất. Thu nhập và quy mô gia đình có mối liên hệ đến thành tích học tập (Ferguson, 1991).
Peng và Wright's (1994) cũng phân tích về thành tích học tập, môi trường gia đình (bao gồm cả thu nhập của gia đình) và các hoạt động giáo dục, đã kết luận rằng môi trường gia đình và các hoạt động giáo dục mối tương quan với nhau. Theo Graetz (1995), thành công về mặt giáo dục của một người phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng kinh tế xã hội của cha mẹ. Considine và Zappala (2002) nhận định, những gia đình mà cha mẹ đang có lợi thế về mặt xã hội, giáo dục và kinh tế sẽ thúc đẩy thành tích học tập ở con họ cao hơn. Các nhà nghiên cứu đồng ý với Considine và Zappala (2002), học sinh có nền tảng kinh tế xã hội cao được tiếp xúc với nhiều tài liệu học thuật mà có thể hỗ trợ trí tuệ của chúng [33, 129-148].
Theo Graetz (1995), trẻ em đến từ các gia đình có tình trạng kinh tế xã hội cao thì việc học tập ở trường tốt hơn so với trẻ em đến từ gia đình có tình trạng kinh tế xã hội (SES) thấp. Nghề nghiệp của ba mẹ có thể quyết định lớn đến cơ hội được đi học trung học của trẻ hay không. Ezeji (2001) cho rằng, ba mẹ làm nghề luật sư, bác sĩ, nhạc sĩ thì họ luôn mong muốn con cái cũng làm những nghề nghiệp giống mình. Còn Uwaoma (2009) thì khẳng định, hầu hết học sinh học nghề là những đứa trẻ có ba mẹ là nông dân hay làm thợ.
Tại Nigeria hầu hết những đứa trẻ mà ba mẹ không có đủ khả năng chi trả những khoản học phí cao sẽ ghi danh chính thức vào những chương trình học nghề như thợ mộc, thợ xây dựng, kinh doanh nhỏ và những công việc khác. Gachathi (1976) thì cho rằng uy tín nghề nghiệp là một thành phần của tình trạng kinh tế xã hội bao gồm cả thu nhập và trình độ học vấn. Đối với ông, nghề nghiệp phản ánh trình độ học vấn cần thiết để có được một công việc và thu nhập. Khi cha mẹ có một nghề nghiệp ổn định, họ có đủ điều kiện để chu cấp cho con cái hơn.
Họ có khả năng cung cấp, hỗ trợ về mặt kinh tế, xã hội, tâm lý và tình cảm cho con cái mình, và điều này giúp con em của họ có cơ hội đạt được trình độ học vấn cao hơn. 9 Trình độ học vấn của cha mẹ được biết đến như là một yếu tố tích cực liên quan đến thành tích học tập của trẻ (Grissmer, Kirby, Berends & Williamson, 1994). Và trình độ học vấn của cha mẹ có sự kết nối rất nhiều với trình độ học vấn của con em mình (Sarigiani, 1990). Theo Alio (1995) quy mô gia đình có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục.
Tác giả nhấn mạnh, quy mô gia đình quyết định tương đối lớn đến thời gian và sự đầu tư về vật chất mà ba mẹ dành cho mỗi đứa trẻ. Những đứa trẻ trong gia đình đông con thường đối mặt với cái nghèo, thiếu sự khuyến khích động viên của ba mẹ trong thành tích học tập (Eamon, 2005). Ngược lại, quy mô gia đình nhỏ có mối liên kết với thành tích học tập của trẻ cao hơn (Majoribank 1996). Majoribank cho rằng học sinh có ít anh chị em thì nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của ba mẹ nhiều hơn, nên kết quả học tập sẽ tốt hơn.