chương 1 tác giả nêu ra lý do chọn đề tài, cũng như mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng của đề tài. Đồng thời, tác giả cũng nêu ra những phương pháp nghiên cứu được đề cập trong luận văn, mô hình nghiên cứu cần thực hiện để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến HDV tiền gửi KHCN. Các chương tiếp theo sẽ trả lời rõ những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra và những mô hình nghiên cứu được sử dụng trong luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại. Hình thức huy động vốn cơ bản 2. Nhận tiền gửi Theo Bành Thị Ngọc Bích (2012) nguồn lực quan trọng của các NHTM chính là tiền gửi của khách hàng, nguồn lực này chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn tiền tại ngân hàng. Mỗi công cụ huy đông tiền gửi của ngân hàng đều mang những đặc điểm riêng phù hợp với mọi nhu cầu gửi tiền của khách hàng.
Dựa vào cơ sở hình thành, tiền gửi của các ngân hàng gồm tiền gửi từ dân cư, tiền gửi từ tổ chức kinh tế và nguồn tiền gửi khác. Tiền gửi dân cư : - Tiền gửi của dân cư là tiền gửi có được dựa vào thu nhập của cá nhân trong xã hội gửi vào ngân hàng với nhằm có lời, thanh toán hoặc tích lũy. Đây được xem là nguồn vốn quan trọng và trong tổng nguồn vốn huy động thì nguồn tiền gửi này chiếm tỷ trọng lớn. Tiền gửi dân cư gồm có: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán.
- Tiền gửi tiết kiệm gồm có tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn ứng với từng khoảng thời gian, ứng với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là sổ tiết kiệm và sổ này dùng để cầm cố nếu khách hàng muốn vay vốn tại ngân hàng. - Tiền gửi thanh toán: những cá nhân trong xã hội đều được phép thanh toán qua ngân hàng. Khách hàng cá nhân mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền vào để có thể dùng những SPDV mà ngân hàng cung cấp hay những tiện ích mà ngân hàng mang lại. Cả 2 nguồn tiền gửi này cũng được xem là nguồn vốn hoạt động cho các NHTM.
Tiền gửi từ tổ chức kinh tế: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường có phần vốn tạm thời chưa dùng đến như trích khấu hao chưa dùng; thu tiền từ 7 việc bán hàng; quỹ ĐTPT, phúc lợi, khen thưởng được trích nhưng chưa dùng đến. Các tổ chức kinh tế sẽ gửi nguồn vốn này vào ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn hơn và nguồn vốn này cũng có lời. Bên cạnh đó, tổ chức kinh tế có thể dùng những SPDV của ngân hàng để thuận tiện khi đơn vị sử dụng vốn. Các hình thức mà tổ chức kinh tế gửi vốn vào ngân hàng: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra mọi lúc và ngân hàng luôn có nghĩa vụ đáp ứng các nhu cầu đó. Mục đích của loại tiền này là thanh toán, vì thế, nguồn vốn này có được nhiều hay ít gần như tùy thuộc vào CLDV thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất của tiền gửi không kì hạn rất thấp không có lợi cho doanh nghiệp. Nhưng nguồn vốn này có lợi cho ngân hàng giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trong cho vay.
- Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được nhận đầy đủ gốc và lãi cho khách hàng trong khoảng thời gian theo sự thỏa thuận của khách hàng. Loại tiền này thường được các ngân hàng cho phép rút trước hạn và khách hàng được hưởng mức lãi suất không kì hạn hoặc lãi suất do ngân hàng quy định, mục đích các ngân hàng muốn là thu hút khách hàng gửi tiền vào với kì hạn dài. Độ ổn định của nguồn tiền này cao và khi sử dụng thì ngân hàng có thể chủ động được. Vì vậy, ngân hàng muốn thu hút khách hàng gửi loại tiền này nhiều hơn thì ngân hàng nên đưa ra những sản phẩm có kỳ hạn khác nhau và mức lãi suất tương ứng với kỳ hạn đó.
Những kỳ hạn này phải phù hợp với thời gian doanh nghiệp chưa dùng đến nguồn vốn đó. Phát hành giấy tờ có giá Để gia tăng nguồn vốn trung và dài hạn, các ngân hàng thực hiện phát hành giấy tờ có giá trên thị trường vốn, đây là nguồn vốn tương đối ổn định. Lãi suất thường cao hơn so với LS tiền gửi thông thường. Giấy tờ có giá bao gồm kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu.
Cũng giống như tiền gửi, đây được xem là kênh đầu tư dành cho những tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội khi họ có số vốn hoặc thu nhập chưa sử dụng đến. Vay vốn trên thị trường liên ngân hàng Đây là thị trường giúp các NHTM bổ sung nguồn vốn cho nhau khi bị thiếu hụt vốn bằng cách các NHTM có thể vay từ các TCTD qua thị trường liên ngân hàng. Mục đích hoạt động của thị trường này là tận dụng tất cả những khả năng sẳn có trước khi cần yêu cầu tiền từ NHTW. Tầm quan trọng trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại 2.
Đối với nền kinh tế Để có được một nền kinh tế phát triển cao ở mỗi quốc gia, điều quan trọng hơn cả là phải tập trung được một lượng vốn lớn để đầu tư tăng năng lực sản xuất, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều. Sự phát triển của nền kinh tế bao giờ cũng bắt đầu từ con đường huy động và tích luỹ vốn tự có. Trong các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, NHTM là kênh dẫn vốn hiệu quả nhất và ít tốn kém nhất. Thông qua NHTM những đồng vốn riêng lẻ, chưa được dùng trong xã hội sẽ được tập trung thành nguồn vốn tự có lớn, đáp ứng các nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.
Đối với ngân hàng Hoạt động huy động vốn giúp ngân hàng có nguồn vốn để thực hiện những HĐKD: tín dụng, đa dạng hoá SPDV, phát triển khoa học và công nghệ của ngân hàng. Đa phần nguồn vốn huy động bắt đầu từ nguồn tiền chưa dùng đến của các cá nhân, doanh nghiệp. Các ngân hàng sẽ không thể thực hiện các hoạt động của ngân hàng nếu không có nghiệp vụ huy động vốn này vì vốn điều lệ mà ngân hàng có được chỉ đủ tài trợ cho TSCĐ hoặc những trang thiết bị cần thiết chứ không đủ để thực hiện HĐKD của ngân hàng. Đây được xem là nguồn vốn tạo khoản chi phí lớn cho ngân hàng, là nguồn lực tài chính chủ yếu của ngân hàng.
Ngoài ra, nghiệp vụ này cũng giúp ngân hàng đo lường sự tín nhiệm hoặc uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó, ngân hàng sẽ có những giải pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn để giữ vững hay mở rộng mối quan hệ với khách hàng. Tóm lại, đây được xem là nghiệp vụ góp phần giải quyết một số vấn đề đầu vào của ngân hàng. Đối với khách hàng Hoạt động huy động vốn đáp ứng cho khách hàng 1 kênh đầu tư, giúp họ có lời từ việc gửi tiền vào ngân hàng, được nhận lãi và từ đó làm cho khả năng tiêu dùng của khách hàng tăng lên.
Thông qua hoạt động này, ngân hàng được xem là nơi an toàn để khách hàng yên tâm cất giữ hay tích lũy số tiền mà mình chưa dùng đến. Đồng thời họ có thể tiết kiệm thời gian, nhân lực và chi phí khi họ thực hiện thanh toán qua những dịch vụ của ngân hàng. Hiệu quả hoạt động huy động vốn 2. Mức độ tăng trưởng ổn định của nguồn vốn huy động Vốn huy động phát triển ổn định sẽ cung cấp cho nhu cầu tín dụng cũng như HĐKD khác ngày càng tăng của ngân hàng.
Nếu ngân hàng có số vốn lớn đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết của ngân hàng thì khi ngân hàng rút ra số tiền lớn cũng không tác động lớn đến hoạt động của ngân hàng và vấn đề thanh khoản cũng không gây ra khó khăn cho ngân hàng. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động tăng trưởng đều và gia tăng cũng góp phần khẳng định vị thế và niềm tin của ngân hàng. Nếu một ngân hàng giữ được mức huy động vốn tăng đều và ổn định suốt nhiều năm liền thì ngân hàng đó được xem là có đủ tiềm năng tài chính. Tính ổn định này cũng quyết định một phần trong việc ngân hàng kinh doanh có an toàn không.
Đồng thời vốn huy động phát triển ổn định cũng quyết định đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng, hiệu quả trong việc sử dụng vốn của ngân hàng. Quy mô và cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn Để thực hiện một chiến lược huy động vốn phù hợp nhằm góp phần đem đến nguồn thu cho ngân hàng thì việc đầu tiên là xây dựng kế hoạch sử dụng vốn. Một NHTM có quy mô nguồn vốn ổn định, đáp ứng với lãi suất và kì hạn của ngân hàng. Nếu nguồn vốn huy động tăng thì chỉ tiêu này được xem là phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Đây là điều kiện đầu tiên về quyết định mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. 10 Ngân hàng cần phải xây dựng quy mô nguồn vốn phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng theo từng thời kì. Các loại vốn như ngắn hạn, trung và dài hạn, nội tệ và ngoại tệ phải phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Kì hạn không thích hợp sẽ gây khó khăn cho ngân hàng.
Nếu tiền không phù hợp thì ngân hàng sẽ gặp bất lợi là chịu khoản chi phí để đổi tiền huy động sang tiền cần dùng, vậy sẽ có rủi ro tỷ giá. Nếu kỳ hạn huy động vốn và sử dụng vốn không thích hợp thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về kỳ hạn. Đây là những rủi ro mà ngân hàng sẽ gặp khi thực hiện kế hoạch huy động vốn.3 Chi phí huy động vốn bình quân hợp lý Yếu tố này được xem là yếu tố quyết định đến hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng, nó tác động trực tiếp đến cách thức sử dụng vốn và quan trọng hơn là lợi nhuận của ngân hàng. Lãi suất huy động vốn bình quân của các ngân hàng là khác nhau do tỷ trọng mỗi loại tiền gửi khác nhau, mặc dù biểu lãi suất là như nhau.
Mục tiêu của các ngân hàng là chi phí vốn huy động bình quân hợp lý nhất để đáp ứng được nhu cầu cho vay của khách hàng và cũng tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường.