CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về vốn của Ngân hàng thương mại 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại Thuật ngữ “Ngân hàng” đã được hình thành từ rất lâu, trước cả khi nền sản xuất hàng hoá ra đời.
Khoảng 3500 năm trước công nguyên, bắt đầu xuất hiện việc ký gửi các vật phẩm cá nhân cho các dòng temple ở Tây Âu. Khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, thời kỳ văn minh Hy Lạp, hoạt động ngân hàng rõ nét hơn, xuất hiện hoạt động gửi, nhận, ký gửi. Giai đoạn nguyên sơ ban đầu, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, các hoạt động trao đổi, buôn bán, nhu cầu sử dụng, lưu thông tiền tệ lớn, các thương gia đã lập ra những nơi với mục đích để đổi tiền, nhận tiền gửi và thu phí từ người gửi, đồng thời họ cũng nhận chi trả và thanh toán hộ. Ban đầu người gửi phải trả phí nhưng về sau nhận ra cơ hội sinh lời từ số tiền này nên các thương nhân đã trả phí cho người gửi để thu hút, tăng lượng tiền gửi.
Khởi điểm cho ngân hàng kỷ nguyên hiện đại, năm 1609, Hà Lan thành lập ngân hàng Amsterdam. Trải qua quá trình phát triển, các thương gia nhận thấy được nhu cầu vay vốn và họ cho vay để sinh lời, đây chính là mầm mống của các nghiệp vụ khác cơ bản của Ngân hàng thương mại (NHTM). Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đã kéo theo sự bùng nổ các NHTM trở thành ngành kinh doanh hấp dẫn trên lĩnh vực tiền tệ. Kinh tế ngày càng phát triển các nghiệp vụ ngân hàng mới được ra đời nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trường.
Nhiều dịch vụ mới xuất hiện như: dịch vụ bảo lãnh L/C, các dịch vụ tín dụng, phát hành chứng chỉ tiền gửi… Hai NHTM đầu tiên hoạt động trên thế giới đều ở Tây Ban Nha đó là Banca di Baralone (ra đời năm 1401) và Banca di Valencia (ra đời năm 1409). Mặc dù có lịch sử từ rất lâu nhưng cho đến nay, các nhà kinh tế học vẫn chưa 9 có thống nhất khi định nghĩa về NHTM. Tại Việt Nam, định nghĩa về NHTM được công nhận và sử dụng phổ biến: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó các hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản” 15, tr.
Ngân hàng là một trong những tổ chức quan trọng nhất của nền kinh tế, được ví như thủ quỹ của toàn xã hội, hàng triệu hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước. Ngoài chức năng nhận tiền gửi và cung cấp dịch vụ các phương thức thanh toán, ngân hàng còn thực hiện nhiều chính sách quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Cách tiếp cận thận trọng nhất có thể là xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Trên thực tế ngân hàng hiện đang phải thực hiện nhiều vai trò để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội. Những vai trò cơ bản đó là: vai trò trung gian trung chuyển vốn giữa đối tượng có vốn nhàn rỗi đến các đối tượng cần vốn để sản xuất kinh doanh; vai trò thanh toán dành cho khách hàng mua sắm hàng hóa dịch vụ; vai trò đại lý, bảo lãnh; vai trò điều tiết nền kinh tế vĩ mô cùng với các chính sách khác của Ngân hàng nhà nước. Khái niệm về vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại Vốn chính là yếu tố sống còn của các hoạt động kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế.
Vốn là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của mọi hoạt động kinh doanh trong toàn xã hội nói chung và cho các loại hình doanh nghiệp nói riêng. Theo định nghĩa đã được các nhà kinh đã tế đưa ra như sau: “Vốn của ngân hàng thương mại là 10 những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập ra hoặc huy động được, dùng để đầu tư, cho vay, hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh khác của mình”. Hoạt động huy động vốn của NHTM là một hoạt động cơ bản đầu tiên và quan trọng nhất của một ngân hàng thương mại. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng (sau khi đảm bảo một tỷ lệ dự trữ bắt buộc) với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi.
Nguồn vốn của NHTM gồm có vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay, vốn khác. Theo luật các tổ chức tín dụng (TCTD) nước ta quy định: “Tiền gửi là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào NHTM nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác; Là giá trị tiền tệ mà NHTM nhận được từ khách hàng là cá nhân hoặc tổ chức kinh tế” 15, tr. Vậy có thể hiểu : Vốn tiền gửi của NHTM là toàn bộ số tiền gửi mà ngân hàng huy động được từ các chủ thể trong nền kinh tế như khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này không thuộc sở hữu của NHTM.
Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động và là cơ sở tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Để gia tăng VTG trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền gửi có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009): “Nguồn vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được để đầu tư, cho vay và thực hiện các nghĩa vụ ngân hàng khác.” Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn tự có thuộc sở hữu của ngân hàng, được tạo lập từ ban đầu, phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng; vốn huy động là nguồn vốn mà ngân hàng huy động từ công chúng, mang tính chất giữ hộ và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi người gửi có yêu cầu thông qua các nghiệp vụ như thanh toán, tiền gửi, tiền vay hoặc nghiệp vụ kinh doanh khác; vốn đi vay là nguồn vốn có được từ quan hệ vay mượn trên thị trường liên ngân hàng và các 11 nguồn vốn khác.
Khoản mục tiền gửi thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản nợ của ngân hàng, đây là điểm khác biệt giữa ngân hàng với các doanh nghiệp khác. Các ngân hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn tiền gửi huy động được để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác và tạo ra lợi nhuận. Theo Luật các TCTD : “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ số tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. trang 9, thực hiện trích dẫn nguồn 15, tr.2; Theo một định nghĩa khác tại luận văn tác giả Phạm Anh Tuấn: “Tiền gửi ngân hàng là tiền được giữ trong các tài khoản ở ngân hàng.
Trên thực tế nó chính là số liệu về các khoản nợ của một ngân hàng đối với người gửi tiền”.11; Từ các quan điểm trên, tác giả có thể khái quát: Huy động vốn tiền gửi của NHTM là hoạt động mà NHTM thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức khác nhau như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi theo thỏa thuận. Huy động VTG là hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM và được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất trong hoạt động của NHTM. Đây là hoạt động quan trọng và là tiền đề để NHTM tồn tại và phát triển. NHTM huy động các khoản tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế gửi vào ngân hàng, sau đó sử dụng chính nguồn vốn huy động được để cho vay và đầu tư để hưởng chênh lệch lãi suất, lãi cho vay luôn cao hơn lãi suất huy động tiền gửi.
Bên cạnh việc hoạt động tìm kiếm lợi nhuận, NHTM còn tham gia vào việc thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế, các vùng, địa phương theo chỉ đạo của Nhà nước và nhu cầu của xã hội. Phân loại vốn tiền gửi Ngân hàng thương mại cung cấp nhiều các loại tiền gửi khác nhau và cũng có rất nhiều cách để phân loại các loại hình tiền gửi của ngân hàng: Phân loại theo đối tượng khách hàng 12 Tiền gửi của dân cư (cá nhân) Tiền gửi của khách hàng cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi của ngân hàng. Đây là nguồn vốn được huy động nhàn rỗi từ khu vực dân cư, người tham gia gửi tiền tại ngân hàng có thể dùng với mục đích thanh toán hoặc để hưởng lãi suất, thay vì không biết phải đầu tư tiền vào lĩnh vực nào. Đối với tiền gửi tại ngân hàng, sẽ được đảm bảo về vốn (không sợ bị mất vốn) mà vẫn được hưởng một phần lãi suất.
Các chi nhánh đều triển khai nhiều chính sách theo chiều rộng và cả chiều sâu để hút vốn từ nguồn này, bởi lẽ đây là nguồn ổn định lâu dài, chi phí trả lãi thấp nhất… Vì vậy, các chi nhánh ngân hàng luôn mong muốn khai thác triệt để khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư để có lượng vốn ổn định, phục vụ nhu cầu cho vay và đầu tư của ngân hàng.