Chương 1 Nghị định 163/2018/NĐ – CP nhấn mạnh về kỳ hạn của TPDN như sau: “Trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ 9 trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư sở hữu trái phiếu”. Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định: “Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành”. Nhìn chung, các khái niệm về TPDN đều cho rằng, TPDN là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp (có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật) nhằm huy động vốn với mục đích đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh. Trái phiếu doanh nghiệp là một nguồn huy động vốn của doanh nghiệp ngoài nguồn vốn huy động từ việc phát hành cổ phiếu, vay nợ ngân hàng hay vay tín dụng.
Ngoài ra, TPDN còn là một loại tài sản tài chính trên thị trường tài chính. Bản chất của trái phiếu là chứng khoán nợ. Do đó, khi công ty bị phá sản, giải thể thì cổ phần của công ty trước hết phải thanh toán cho những người nắm giữ trái phiếu trước đó, được xem như là một nghĩa vụ bắt buộc. Sau khi trả nợ trái phiếu thì cổ phần mới được chia cho những cổ đông.
* Các đặc điểm cơ bản của trái phiếu doanh nghiệp: Là một loại chứng khoán, TPDN có những đặc điểm của chứng khoán nói chung như sau: - Tính vô hình: TPDN là một bằng chứng xác nhận quyền của người nắm giữ, nên người này sẽ không thể thực hiện quyền của mình, khai thác công dụng của trái phiếu khi tổ chức phát hành mất khả năng thanh toán. Nói cách khác, TPDN chỉ có giá trị khi doanh nghiệp phát hành có khả năng thanh toán. - Tính sinh lời: Chứng khoán nói chung đều có tính sinh lời, nhưng lợi ích NĐT có được khi đầu tư vào các chứng khoán khác nhau sẽ khác nhau. Đối với TPDN - một loại chứng khoán xác nhận quyền chủ nợ của NĐT - khi mua TPDN, lợi nhuận của NĐT bao gồm lãi suất TPDN và sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán TPDN.
10 - Tính rủi ro: Rủi ro chính của TPDN là sự ảnh hưởng nặng nề khi lãi suất thị trường tăng cao. Khi lãi suất thị trường tăng cao hơn lãi suất danh nghĩa của TPDN, NĐT chỉ được hưởng một lãi suất hiện hành ở mức thấp và có xu hướng bán trái phiếu, để đầu tư vào hình thức khác có mức lãi suất cao hơn, nghĩa là giá TPDN hiện hành sẽ giảm xuống do cung lớn hơn cầu. Khi đó, NĐT chỉ có thể bán TPDN với mức giá thấp hơn mức giá mua, tức là sẽ xảy ra tình trạng lỗ về vốn đối với NĐT. Bên cạnh những đặc điểm chung, TPDN còn có những đặc điểm riêng như sau: - TPDN là một loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, nên nó thể hiện quan hệ chủ nợ và con nợ giữa người mua TPDN và doanh nghiệp phát hành.
Nghĩa là, khi đáo hạn, với tư cách là chủ nợ của doanh nghiệp phát hành trái phiếu đó, người mua có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết của doanh nghiệp. - TPDN thường có lãi suất cố định (trừ trường hợp trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu có lãi suất bằng không). Lãi suất thường được ghi cụ thể trên trái phiếu, thường được xác định theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá của trái phiếu. Trái chủ sẽ được trả lãi định kỳ, theo những cam kết mà doanh nghiệp đã đưa ra khi phát hành trái phiếu, không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
- Để thu hút NĐT, từ đó huy động được một khối lượng vốn lớn, các doanh nghiệp thường phát hành TPDN với nhiều hình thức bảo đảm, hoặc phát hành TPDN với những điều kiện cụ thể kèm theo như TPDN bảo đảm bằng tài sản, TPDN có thể chuyển đổi. Như vậy, với những đặc điểm vừa nêu, TPDN là một loại chứng khoán có mức độ rủi ro tương đối thấp, đem lại khoản thu nhập cố định cho người nắm giữ, và là sự lựa chọn phù hợp với những NĐT thích an toàn. Bản chất và đặc điểm của hoạt động phát hành trái phiếu của NHTM Trái phiếu do NHTM phát hành là một loại trái phiếu doanh nghiệp. NHTM sẽ phát hành trái phiếu khi có nhu cầu huy động vốn lớn để tài trợ cho việc đầu tư mở rộng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh trong trường hợp không đủ điều kiện hoặc không muốn phát hành cổ phiếu, hoặc tùy thuộc vào chiến lược quản lý vốn của mỗi ngân hàng.
11 Trong phân khúc trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu do các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính phát hành thường được phân loại thành một nhánh riêng. Về bản chất, trái phiếu do NHTM phát hành có thể coi là một dạng huy động tiết kiệm đặc biệt của các ngân hàng. Việc phát hành trái phiếu của NHTM thực chất là một hình thức huy động vốn, có thể chính các công ty chứng khoán mua kinh doanh. Hoạt động phát hành trái phiếu của các NHTM là tạo ra một kênh huy động vốn rất hiệu quả, nhất là trong thời buổi cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trái phiếu NHTM được nhận định là rất thanh khoản, có thể sinh lời cao, lãi suất hấp dẫn, điều kiện linh hoạt nên các NHTM nhờ phát hành trái phiếu mà thu về hàng ngàn tỷ đồng vốn trung dài hạn. Bởi lãi suất trái phiếu ngân hàng có mức trên dưới 10,5% một năm, bên mua có quyền bán lại trái phiếu cho bên bán khi chưa đến kỳ đáo hạn. Lãi suất được thanh toán cuối kỳ hoặc hàng năm…Một số doanh nghiệp hiện trích một phần vốn ra đầu tư trái phiếu ngân hàng trong lúc chưa có dự án hoặc do vẫn có nguồn vốn nhàn rỗi nhưng chưa triển khai được dự án nên đầu tư vào trái phiếu và họ có thể bán lại cho ngân hàng thu hồi vốn khi có nhu cầu vốn. Thực tế trên thị trường, lãi suất tiết kiệm VND hiện được các ngân hàng đẩy lên cao, sát trần cho vay , cùng nhiều khuyến mãi, tiện ích để khuyến khích khách hàng gửi tiền.
Trong khi đó, người dân không mấy mặn mà với gửi kỳ hạn dài. Với các mức lãi suất cao, ngân hàng lại có thêm những điều kiện ràng buộc như món tiền gửi lớn, không được rút trước hạn, lĩnh lãi cuối kỳ… Điều này không phù hợp với tính toán của khách hàng cũng như nhu cầu rút vốn linh hoạt để rót vào các kênh đầu tư khác đang hấp dẫn. Đại diện một số NHTM thừa nhận, nhu cầu vốn trung dài hạn thường rất lớn trong khi nguồn vốn trung dài hạn không nhiều. Để huy động vốn trung dài hạn, phát hành trái phiếu trung dài hạn là bài toán được các ngân hàng áp dụng linh hoạt.
Nhờ đó các ngân hàng đã huy động được hàng ngàn tỷ đồng vốn trung dài hạn từ phát hành trái phiếu. Thông qua hoạt động phát hành trái phiếu, theo đánh giá của các chuyên gia, các NHTM cùng lúc đạt được nhiều mục đích như vừa cải thiện vốn trung – dài hạn, vừa có cơ sở tăng vốn 12 điều lệ từ nguồn vốn phát hành trái phiếu. Với nguồn vốn mới này, các NHTM có khả năng đa dạng hóa kênh đầu tư thông qua việc đầu tư vào các loại giấy tờ có đặc biệt là TPCP, trái phiếu của chính các NHTM hoặc các tổ chức kinh tế. Phân loại trái phiếu của ngân hàng a.
Căn cứ theo lãi suất trái phiếu Căn cứ vào lãi suất trái phiếu, TP của NHTM được chia thành các loại sau đây: - Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu mà lãi suất được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) cố định trên mệnh giá. - Trái phiếu có lãi suất biến đổi (hay còn gọi là lãi suất thả nổi) là trái phiếu mà lợi tức trả trong các kỳ khác nhau, có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu. - Trái phiếu không có lãi suất (zero - coupond bonds) là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi nhưng được mua trái phiếu với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả số tiền bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn. Căn cứ theo mức độ đảm bảo thanh toán của chủ thể phát hành trái phiếu Theo tiêu thức này, TP của NHTM có thể được phân biệt thành các loại sau: - Trái phiếu có đảm bảo là loại trái phiếu mà chủ thể phát hành trái phiếu dùng một tài sản có giá trị (như bất động sản và các tài sản tài chính khác) làm đảm bảo cho việc phát hành.
Trong trường hợp chủ thể phát hành trái phiếu mất khả năng thanh toán tiền lãi hoặc hoàn trả tiền gốc thì những người có trái phiếu có quyền tịch thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền chủ thể phát hành trái phiếu còn nợ (thông thường thực hiện thông qua các đơn vị được ủy thác). Trái phiếu có đảm bảo gồm có các loại: trái phiếu có tài sản cầm cố và trái phiếu đảm bảo bằng chứng khoán ký quỹ. - Trái phiếu không có đảm bảo là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật đảm bảo, mà chỉ được đảm bảo bằng uy tín (tín chấp) của chủ thể phát hành trái phiếu. Những ngân hàng lớn, có danh tiếng thường dựa vào uy tín của mình để phát hành trái phiếu loại này.
Tuy nhiên, trên thực tế, các trái phiếu này vẫn được đảm bảo bởi tài sản chung của NHTM, trong trường hợp NHTM phát hành không 13 có khả năng trả nợ và tuyên bố phá sản thì trái chủ của trái phiếu không có đảm bảo sẽ được thanh toán sau trái chủ của trái phiếu có đảm bảo nhưng trước các cổ đông của công ty. Căn cứ theo tính chất của trái phiếu Trái phiếu thông thường là loại trái phiếu được hoàn trả tiền lãi và vốn gốc theo kỳ hạn cam kết và không kèm theo điều kiện ràng buộc nào khác. Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu của NHTM cổ phần cho phép trái chủ được chuyển đổi từ trái phiếu sang cổ phiếu (thông thường là cổ phiếu phổ thông do ngân hàng phát hành). Tỷ lệ chuyển đổi và thời hạn chuyển đổi được ấn định ngay khi phát hành trái phiếu và chỉ thay đổi khi công ty phát hành có sự tách hay gộp cổ phiếu.