CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 1. Cơ sở lý luận về quy mô thị trường TPDN 1. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Khái niệm thị trường trái phiếu doanh nghiệp Collin (2003) đưa ra khái niệm: “Thị trường trái phiếu là nơi mà các trái phiếu được giao dịch”. Thị trường TPDN là nơi mà TPDN được mua và bán.
Theo Mizen và Tsoukas (2014): “Thị trường TPDN bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.” Trong cuốn Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp đưa ra khái niệm: thị trường là nơi thực hiện các giao dịch mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại hàng hóa, dịch vụ, vốn, sức lao động và các nguồn lực khác trong nền kinh tế. Từ khái niệm thị trường như trên, các tác giả của cuốn từ điển này cũng đưa ra khái niệm thị trường chứng khoán (mà không đưa ra khái niệm TTTPDN): thị trường chứng khoán là nơi mua, bán chứng khoán. Đồng nhất với khái niệm TTTPDN theo các quan điểm trên, tác giả rút ra khái niệm TTTPDN như sau: thị trường trái phiếu doanh nghiệp là thị trường phát hành và giao dịch các loại trái phiếu của các doanh nghiệp theo quy định pháp luật. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Ở Việt Nam, trong cuốn giáo trình Thị trường Chứng khoán của Học viện Tài chính, phân loại TTTPDN được xác định dựa vào các căn cứ sau: Căn cứ vào phương thức giao dịch, TTTPDN chia thành thị trường giao ngay và thị trường tương lai; Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTTPDN chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Ngoài ra, căn cứ vào hình thức tổ chức thị trường, TTTPDN bao gồm thị trường tập trung (còn gọi là thị trường Sở giao dịch) và thị trường phi tập trung (Over the counter market – OTC market). 11 Như vậy, dựa vào các tiêu chí khác nhau mà TTTPDN được phân loại thành nhiều bộ phận khác nhau. Tác giả luận văn này hoàn toàn đồng tình với các quan điểm của các tác giả trong việc phân loại TTTPDN. Trên cơ sở đồng tình và tiếp thu có chọn lọc các quan điểm trên, trong luận văn này, tác giả sẽ trình bày phân loại TTTPDN dưới góc độ của sự luân chuyển các nguồn vốn.
Ở góc độ này, TTTPDN được chia thành thị trường phát hành TPDN và thị trường giao dịch TPDN. Các chủ thể tham gia thị trường Chủ thể tham gia thị trường TPDN cũng giống như những chủ thể trên hầu hết các thị trường tài chính, cũng có người đi vay và người cho vay hoặc cả hai tham gia trên thị trường. Trong đó, các tổ chức cá nhân tham gia thị trường trái phiếu được chia thành ba nhóm chính: nhà phát hành (Issuers), nhà đầu tư (Investors) và chủ thể trung gian (Bond brokers). - Nhà phát hành (Issuers): là các doanh nghiệp thực hiện huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu hàng hóa trên thị trường trái phiếu.
- Nhà đầu tư (Investors): là những người thực sự mua và bán trái phiếu trên thị trường nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận trên lợi tức trái phiếu và chênh lệch giá, có thể chia thành: nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư tổ chức. -Nhà môi giới: là một trung gian trên thị trường trái phiếu, có vai trò là cầu nối cho một hoặc cả hai bên trong một giao dịch. - Các tổ chức liên quan đến thị trường: là những tổ chức giám sát về hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán nhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường, ổn định của thị trường, gồm có: Cơ quan quản lý Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, Các tổ chức tài trợ chứng khoán, Công ty định mức tín nhiệm. Quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Quan niệm về quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Theo từ điển Oxford: “Quy mô (size) là mức độ lớn hoặc nhỏ của một đối tượng nào đó”.
Vì thế, có thể hiểu quy mô của thị trường TPDN là mức độ lớn hoặc nhỏ của thị trường. El-Wassal (2013) nêu rằng quy mô của TTCK được biểu hiện qua mức độ vốn hóa thị trường và số lượng công ty niêm yết. Thị trường TPDN cũng là một phần của TTCK nên quy mô của thị trường TPDN cũng có những chỉ tiêu tương tự. Quy mô của thị trường sơ cấp được xem xét thông qua quy mô phát hành và quy mô trên thị trường thứ cấp được thể hiện qua tính thanh khoản (Mizen và Tsoukas, 2014).
Tiêu chí đo lường quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Tiêu chí đo lường quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp được thể hiện thông qua quy mô phát hành TPDN và quy mô giao dịch TPDN. +Quy mô phát hành TPDN: Theo Braun và Briones (2006), quy mô của thị trường sơ cấp được đo lường thông qua quy mô phát hành hay là giá trị trái phiếu phát hành so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Hotchkiss và Jostova (2007) lại cho rằng tỷ lệ giá trị TPDN phát hành/GDP không thể hiện được hoàn toàn sự tăng trưởng của quy mô phát hành. Giá trị trái phiếu tại một thời điểm là số tồn tích của các kỳ trước đó.
Số dư giá trị trái phiếu cuối năm = số dư đầu năm + phát hành thêm trong năm – đáo hạn trong năm. Vì trái phiếu chủ yếu có kỳ hạn dài nên giá trị đáo hạn có thể thấp hơn giá trị phát hành trong năm. Do vậy, số lượng phát hành hàng năm rất khác so với giá trị trái phiếu phát hành. Hiện nay các doanh nghiệp lại phát hành rất ít (Kowalewski và Pisany, 2017).
Kowalewski và Pisany (2017) cho rằng nên sử dụng chỉ tiêu giá trị TPDN phát hành hàng năm để phản ánh quy mô phát hành của thị trường TPDN sơ cấp để loại trừ giá trị trái phiếu đáo hạn (đã được thanh toán). 13 Thị trường thứ cấp là nơi mà các TPDN được giao dịch giữa các NĐT với nhau. Theo Alexander và cộng sự (2000) và Hotchkiss và Jostova (2007) quy mô của thị trường TPDN thứ cấp được thể hiện qua tính thanh khoản của thị trường. Nghiên cứu của Alexander và cộng sự (2000), Wahyudi và Robbi (2009) đã sử dụng các tiêu chí liên quan đến quy mô giao dịch trái phiếu để phản ánh tính thanh khoản của thị trường như sau: Số lượng giao dịch, Số lượng trái phiếu được giao dịch, doanh số giao dịch.
+Quy mô giao dịch TPDN: Quy mô giao dịch trái phiếu được thể hiện qua nhiều phương diện, bao gồm: số lượng trái phiếu được giao dịch, số lượt giao dịch và giá trị trái phiếu được giao dịch (Alexander và cộng sự, 2000). Vì thế, quy mô giao dịch trái phiếu được đo lường bằng các biến số sau: Số lượng giao dịch, Số lượng trái phiếu giao dịch, doanh số giao dịch. Cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp Thị trường TPDN là nơi mà TPDN được mua đi và bán lại. Theo Mizen và Tsoukas (2014): “Thị trường TPDN bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.” Thị trường sơ cấp – thị trường phát hành Là thị trường mà trái phiếu được doanh nghiệp bán cho các NĐT nhằm huy động vốn.
Việc mua bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp thường được tiến hành thông qua: trung gian là các ngân hàng, doanh nghiệp phát hành trực tiếp trên TTCK, bán trực tiếp cho các NĐT. Mục tiêu của phát hành TPDN là đảm bảo huy động đủ vốn theo dự kiến (phát hành hết trái phiếu), kịp thời gian, và chi phí phát hành thấp. Mục tiêu này có thực hiện được hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mệnh giá, lãi suất, thời hạn, rủi ro và tính thanh khoản của TPDN đối với người mua. TPDN có thể được phát hành theo các cách sau: -Tự phát hành trái phiếu Tự phát hành là phương pháp thường được dùng cho các tổ chức đã có kinh nghiệm trong hoạt động này.
Với doanh nghiệp được xếp hạng cao, hoặc khi TTCK 14 phát triển, việc tự phát hành sẽ đỡ tốn kém chi phí. Phương pháp này cũng phù hợp với đợt phát hành có giá trị lớn (Tiết kiệm chi phí phát hành), hoặc phát hành cho các đối tác riêng biệt (Xác định cụ thể giá trị phát hành, người mua). -Đại lý phát hành Trong trường hợp này doanh nghiệp phát hành trái phiếu thuê đại lý phát hành - người bán hộ. Tổ chức đại lý phát hành thường là các trung gian tài chính lớn, có kinh nghiệm phát hành, mạng lưới và quan hệ với các tổ chức kinh tế và công chúng rộng rãi nên khả năng phát hành thành công thường cao hơn.
-Bảo lãnh phát hành Đây là hình thức phát hành mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với TCPH về một số hoạt động: thực hiện các thủ tục trước khi chào bán trái phiếu, nhận mua một phần hay toàn bộ số trái phiếu được phát hành để bán lại, hoặc mua số trái phiếu chưa được bán hết, hoặc hỗ trợ TCPH trong việc chào bán trái phiếu. -Chào bán trái phiếu ra công chúng Là việc chào bán trái phiếu theo một trong các phương thức sau đây: Thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, kể cả Internet; Chào bán cho số lượng NĐT xác định; Chào bán cho một số lượng NĐT không xác định. TCPH thực hiện chào bán ra công chúng phải đăng ký với cơ quan quản lý và có thể niêm yết TPDN trên thị trường tập trung như SGD chứng khoán. -Phát hành riêng lẻ Ngược lại với phát hành ra công chúng, phát hành riêng lẻ là việc chào bán trái phiếu cho các đối tượng nhất đinh.
Do số lượng người mua nhỏ, công tác quảng cáo chào bán sẽ đơn giản hơn. Trái phiếu phát hành riêng lẻ không được niêm yết trên thị trường tập trung. Thị trường thứ cấp – thị trường giao dịch Là thị trường mà những trái phiếu đã phát hành được mua đi bán lại giữa các NĐT. TPDN đã phát hành sẽ được giao dịch trên thị trường thứ cấp.
Thông thường, các trái phiếu này được mua bán theo 2 hình thức: tập trung và phi tập trung (OTC) -Giao dich tập trung Đối với phương thức này, các TPDN được niêm yết và giao dịch tại các SGDCK. Tại đó, các trái phiếu được quản lý chặt chẽ bởi hệ thống quy định rõ ràng 15 khi niêm yết và quy trình về phương thức giao dịch, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. -Giao dịch phi tập trung (OTC) TPDN giao dịch trên OTC được thực hiện thanh toán theo hình thức thanh toán trực tiếp bằng tiền và chuyển giao trái phiếu theo hình thức chứng chỉ vật chất tại TCPH hoặc đại lý chuyển nhượng.