Chương 1: Giới thiệu đề tài luận văn. Nội dung chương này sẽ nêu ra vấn đề và tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu. Từ đó tác giả định hình nội dung nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu.
Trong chương này, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp các lý thuyết liên quan đến huy động vớn và các nhân tố tác động đến huy động vốn. Đồng thời, tác giả sẽ nghiên cứu một cách khái quát các công trình liên quan và xác định các khoảng trống từ đó làm cơ sở đưa ra mô hình để nghiên cứu. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. 6 Trong chương này, tác giả sẽ trình bày về mô hình và giả thuyết nghiên cứu.
Đồng thời, phác thảo quá trình nghiên cứu, thực hiện lập các quan sát để làm thang đo cho các biến trong mô hình. Đưa ra các mức quy định nhằm để kiểm định các giá trị và hệ số của mô hình. Để làm nền tảng cho kết quả của chương 4. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận nghiên cứu.
Ở chương này, tác giả sẽ thực hiện tổng hợp các kết quả nghiên cứu gồm các mục có liên quan đó là thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, kiểm định nhân tố khám phá EFA và kết quả tương quan, mô hình hồi quy. Và dựa trên cái đạt được đó tác giả sẽ bàn luận kết quả và kết luận các giả thuyết. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra ý kiến kết quả tổng quát về kết quả nghiên cứu.
Đồng thời đưa ra những đề nghị, biện pháp và hàm ý để phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng trong khoảng thời gian sắp tới. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2. NGUỒN VỐN VÀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm vốn huy động trong ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013) NHTM là một trung gian tài chính, ở mỗi nước khác nhau các trung gian tài chính lại được phân chia khác nhau.
Tuy nhiên, luôn tồn tại một điểm chung là vai trò chủ đạo của các ngân hàng thương mại đóng góp khối lượng tài sản và tầm quan trọng đối với nền kinh tế. Để có được vị trí đó NHTM phải đặt nhân tố lợi nhuận lên hàng đầu và công cụ duy nhất mà các NHTM phải có trước tiên là vốn. Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Vốn của ngân hàng được hình thành qua các nguồn khác nhau.
Để bắt đầu hoạt động của ngân hàng thì chủ ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, được gọi là vốn ban đầu. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng khối lượng vốn của mình thông qua các hoạt động huy động vốn như nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ đi vay và các nghiệp vụ khác (dịch vụ uỷ thác, trung gian thanh toán…). Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác… Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại, nó đóng vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vai trò quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của NHTM Theo Trầm Thị Xuân hương & cộng sự (2013) Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng và quyết định rất nhiều đến sự ổn định, phát triển và sống còn của một NHTM.
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Khác với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường, hoạt động của ngân hàng có những đặc trưng riêng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính 8 mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ (thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn). Quá trình kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được mã hoá bằng công thức T-T’, trong đó T là nguồn vốn bỏ ra ban đầu, T’ là nguồn vốn thu về sau một quá trình đầu tư, tiến hành hoạt động kinh doanh: T’>T. Từ công thức này, có thể khẳng định ngân hàng nào trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh trong cạnh tranh.
Vì vậy, ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn điều lệ) theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng nguồn vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, nếu không có uy tín thì ngân hàng không thể tồn tại và ngày càng mở rộng hoạt động của mình. Uy tín được thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.
Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với khả năng huy động vốn cao, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả, góp phần vừa giữ được chữ tín, vừa nâng cao thanh thế của ngân hàng trên thương trường. Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn. Với ngân hàng vốn chính là nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Thực tế đã chứng minh: quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn, và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời hạn, lãi suất. Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trường, phân tán rủi ro, tạo thêm vốn cho ngân hàng và khi đó, tất yếu trên thương trường sức cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên.
Các nguồn vốn huy động của NHTM 9 2.Nguồn tiền gửi huy động Khi một ngân hàng hoạt động, công việc đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi thanh toán để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách này ngân hàng có thể huy động tiền gửi không kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức và của các khách hàng cá nhân. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ lệ phần trăm lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Để làm tăng tiền gửi trong thực trạng cạnh tranh hiện nay và để có nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đề xuất và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Phân loại theo thời hạn của các loại tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền như tên gọi của nó là thời gian gửi tiền không xác định, khách hàng (cá nhân, tổ chức) có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào.
Mục đích của khách hàng đối với loại tiền này là hưởng những tiện ích trong thanh toán khi có nhu cầu thanh toán trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Vì vậy đây là bộ phận tiền chỉ nhàn rỗi tạm thời chứ không phải là khoản để gửi tiết kiệm. Tiền gửi có kỳ hạn: Là khoản tiền gửi có thời gian xác định. Nguyên tắc tiến hành khoản tiền gửi này là người gửi chỉ được rút tiền khi đến thời hạn như đã thoả thuận có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc theo thời gian gửi tiền mà khách hàng yêu cầu.
Theo quy định, ngân hàng có thể rút tiền trước thời hạn của người gửi tiền khi khách hàng có yêu cầu và khi rút tiền trước kỳ hạn như đã thoả thuận người gửi sẽ không được hưởng lãi suất tương ưng với kỳ hạn như thoả thuận ban đầu. Phân loại theo đối tượng tiền gửi Tiền gửi của dân cư: Đa số dân cư đều có các khoản tiền tạm thời chưa sử dụng đến. Trong điều kiện có thể tiếp cận với các ngân hàng, họ đều có thể gửi tiền tiết kiệm với mục tiêu đảm bảo an toàn với số tiền của mình và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu đảm bảo an toàn. Để thu hút được ngày càng nhiều tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng đều khích lệ khách hàng thay vì thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà thì gửi tiền ngân hàng giữ hộ, mang đến các cách thức huy động vốn đa dạng và lãi suất cạnh tranh ưu đãi hấp dẫn, v.v…… Tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Các doanh nghiệp do nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các doanh nghiệp này thường gửi một số lượng lớn tiền vào ngân hàng để hưởng được lợi ích trong thanh toán.
NHTM là một trung 10 gian tài chính, nó quan hệ với các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải chi nên ở tài khoản ngân hàngcủa họ luôn có một số dư tiền gửi nhất định, điều này giải thích vì sao ngân hàng lại huy động được nhiều nguồn vốn trong phạm vi này, chi phí thấp và được sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả trung hạn. Tuy nhiên, nguồn tiền này có giới chế là tính ổn định và độ lớn tuỳ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp. Phân loại theo mục đích tiền gửi Tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi của mỗi cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích nhằm hưởng lãi suất theo quy định.
Nó là một dạng đặc biệt của tích luỹ tiền tệ, trong tiêu dùng cá nhân. Khi gửi tiền người gửi sẽ một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận tiền gửi vào ngân hàng.