Chương 1: Giới thiệu (Introduction) Giới thiệu lý do chọn đề tài, mục đích và mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài, tiếp theo là đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc tóm lược của luận văn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm và các dạng tri thức Tri thức có thể được định nghĩa là một sự thật, kỹ năng hay sự hiểu biết mà có thể thu nhận được, đặc biệt thông qua học tập hoặc kinh nghiệm, làm tăng khả năng đánh giá vấn đề, ra quyết định và hành động (Awad & Ghaziri, 2004; Tserng & Lin, 2004 trích trong Ahmad, 2010). Trong triết học, nghiên cứu tri thức được gọi là nhận thức luận. Các nhà nhận thức luận, điển hình là triết gia Hy Lạp cổ đại Plato suy lý rằng tri thức là “niềm tin chân chính hợp lý”.
Nonaka và Takeuchi (1995, trích trong Andreea, 2002) thì cân nhắc “tri thức như một quá trình thúc đẩy con người từ niềm tin cá nhân đến với Sự thật”. Tri thức là một khái niệm trừu tượng, lâu đời nhưng lại chưa có sự thống nhất chung, bên cạnh đó, nó là một khái niệm khá chủ quan, vì nó phụ thuộc và niềm tin, giá trị, trực giác và cảm xúc của cá nhân (Sunassee & Sewry, 2000 trích trong Arntzen,2009). Chưa có một sự công nhận chung về định nghĩa tri thức, dù nhiều người đã cố gắng xác định thế nào là tri thức và làm sao phân loại tri thức (Diedrich & Targama, 2000 trích trong Sanghani,2009). Nonaka và Takeuchi đã phân loại tri thức thành hai thành phần: hiện và ẩn, định hình cơ sở nền tảng cho Quản Trị Tri Thức(KM).
Tri thức hiện là phần hữu hình có thể nắm bắt, mã hóa, đối thoại và lưu trữ dưới dạng tài liệu (Nonaka & Takeuchi, 1995; Firestone, 2001 trích trong Arntzen,2009). Nó là phần cứng của tri thức và thường độc lập với bối cảnh. Ngược lại, tri thức ẩn là phần vô hình, bản chất nằm trong trí tuệ của người lao động, cá nhân hoặc tập thể (Nonaka & Takeuchi, 1995). Nó có mối liên kết với trực giác, cảm xúc, niềm tin, giá trị, kinh nghiệm và không thể lưu trữ.
Nó là phần mềm của tri thức và thường được ấn định trong bối cảnh tương thích. Nhiều nghiên cứu phân loại: tri thức là mức cao, thông tin là mức giữa và dữ liệu là mức thấp nhất (Davenport & Prusak 1998; Dilnutt 2000; Earl 2001; Stenmark 2002; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 Tiwana 2002 trích trong Nguyen, 2010). Một số nhà nghiên cứu khác thêm vào thang bậc trên khái niệm thông thái (Bollinger & Smith, 2001; Vance, 1997; Wu, 2000 trích trong Nguyen, 2010). Dữ liệu là sự thật thô chưa phân tích, được đo lường hoặc quy vào một hiện tượng, chúng nằm ngoài bối cảnh và không có quan hệ với sự thật khác (Loshin 2001; Robbins et al.
2000; Zikmund 2000 trích trong Nguyen, 2010). Dữ liệu là khách quan (James 2005; Tiwana 2002 trích trong Nguyen, 2010). Thông tin được là dữ liệu được gia công và phân tích, cho phù hợp với việc ra quyết định. Nó được xem xét trong bối cảnh, Bối cảnh được định nghĩa là mối quan hệ giữa hai dữ liệu hoặc với thông tin khác (Loshin 2001; Robbins et al.
2000; Zikmund 2000 trích trong Nguyen, 2010). Giống dữ liệu, thông tin là khách quan trong một bối cảnh cụ thể (James 2005). Để trích xuất thông tin từ dữ liệu, Davenport và Prusak (1998, trích trong Nguyen, 2010) đề nghị “5-C”: bối cảnh hóa (contextualisation), phân loại (categorisation), tính toán (calculation), hiệu chỉnh (correction) và cô đọng (Condensation). Tri thức là sự nhận thực, hiểu biết hoặc đạt được sự quen thuộc với hỗn hợp các thông tin, kinh nghiệm, kỹ năng, quy tắc, luật lệ, giá trị, sự thấu hiểu, nghiên cứu, điều tra và quan sát (Bollinger & Smith 2001; Davenport & Prusak 1998; Pemberton & Stonehouse 2000; Robbins et al.
2000 trích trong Nguyen, 2010). Tri thức là sự pha trộn của nhiều phạm trù, nên tri thức thường chủ quan (James 2005, trích trong Nguyen, 2010). Quá trình biến đổi thông tin thành tri thức gồm có: So sánh (comparison), kết quả hóa (consequence), kết nối (connection), và đàm luận (conversation) (Davenport & Prusak, 1998 trích trong Andreea, 2002). Tóm lại, tri thức là thông tin có mục đích (Davidson & Voss 2002 trích trong Nguyen, 2010).
Thông thái nằm ở bậc cao nhất, là sự ứng dụng có suy xét những tri thức và kinh nghiệm tích hợp với con người, tổ chức và xã hội, chỉ ra khả năng nhìn thấu sự phức tạp và khám phá bản chất cốt lõi của vấn đề (Vance, 1997 trích trong Nguyen, 2010). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Sự Liên Hệ Thông thái Hiểu biết quy luật Tri thức Hiểu biết mô hình Thông tin Hiểu biết mối quan hệ Dữ Liệu Hiểu biết Hình 1.1: Thứ bậc dữ liệu, thông tin, trí thức và thông thái Nguồn: Bellinger et al.2 Nguyên nhân quản trị tri thức Sáng kiến quản trị tri thức đang được mở rộng đến tất cả các loại hình tổ chức và công ty trên phạm vi toàn cầu (Ribière, Bechina Artzen & Worasinchai, 2007). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xu hướng này, Andreea và Jing (2003) đăng tải một số lý do: (1) Thông tin quá tải và hỗn loạn, (2) Tắc nghẽn thông tin, (3) Phân khúc và chuyên môn hóa kỹ năng và thông tin, (4) Sự quay vòng và tính lưu động của lực lượng lao động, (5) Sự cạnh tranh và (6) Công nghệ phát triển. Công nghệ thông tin là điều tiên quyết cho quản trị tri thức hiệu quả (Loermans, 2002; Schreiber et al, 2000; Sandelands, 1999 trích trong Aggestam, 2006).2 Quản Trị Tri Thức 2.1 Khái niệm quản trị tri thức Quản trị tri thức là lập kế hoạch, tổ chức, thúc đẩy và kiếm soát con người, quá trình, và hệ thống trong tổ chức để đảm bảo những tài sản liên quan đến tri thức được nâng cao và sử dụng hiệu quả (King, 2009 trích trong Farsan, 2013).
Quản trị tri thức được xem như một vũ khí quan trọng để bền vững hóa lợi thế cạnh tranh và nâng cao kết quả (Abdel et al, 2012, trích trong H. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 Khái niệm KM có nhiều định nghĩa. Quản trị tri thức ban đầu là quá trình ứng dụng, tiếp cận một cách có hệ thống việc nắm bắt, cấu trúc, quản trị và lan truyền tri thức trong tổ chức để làm việc nhanh hơn, tái sử dụng thói quen tốt, giảm chi phí lặp lại của dự án (Nonaka và Takeuchi, 1995; Pasternack và Viscio, 1998; Pfeiffer và Sutton, 1999; Ruggles và Holtshouse, 1999 trích trong Dalkir, 2005). Wigg (1995 trích trong H.Zaied, 2012) định nghĩa KM là một nhóm các quá trình và phương pháp rõ ràng dùng để tìm kiếm những tri thức quan trọng trong nhiều cách vận hành KM khác nhau”.
Filemon và Uriarte (2008 trích trong H.Zaied, 2012) xem KM là một quá trình chính của định vị, tổ chức, chuyển dời, và sử dụng thông tin và kinh nghiệm trong tổ chức.2 Năng lực quản trị tri thức Năng lực quản trị tri thức (Knowledge Management Capability - KMC) là năng lực sáng tạo và ứng dụng tri thức bằng cách tích hợp/ kết nối nhiều nguồn lực và hoạt động khác nhau trong quản trị tri thức để tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh, hiệu quả KM và hiệu quả tổ chức (Gold et al., 2001; Chuang, 2004 trích trong Somnuk, 2010). Có nhiều bằng chứng kết nối mối quan hệ giữa Năng lực quản trị tri thức và kết quả tổ chức, các doanh nghiệp nên nhận biết tầm quan trọng của KM và nỗ lực bồi đắp năng lực để nâng cao kết quả của tổ chức (Chen et al, 2010; Masey et al, 2002; Nonaka, 1994 trích trong Chan, 2006). Mills và Smith (2011 trích trong H.Zaied, 2012), Abdel (2012 trích trong H.Zaied, 2012) nghiên cứu tác động của KMC lên kết quả của tổ chức, và đưa đến kết luận: có một sự tương quan lớn giữa KMC và kết quả của tổ chức. Theo đó, KMC bao gồm nhiều thành tố: công nghệ, văn hóa, cấu trúc, nguồn nhân lực, sự thu nhận, sự chuyển hóa,sự phổ biến, ứng dụng, bảo vệ, lưu trữ, cơ sở hạ tầng và quá trình (Mills và Smith, 2011; Abdel , 2012; Jung et al., 2011 trích trong H.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Để KM thành công và hiệu quả cho tổ chức, cần cân nhắc năm quy tắc quan trọng sau (Wiig, 1993; Marquarde, 996; Beckman, 1997; Devenport & Prusak, 1998; O’Dell & Grayson, 1998; Wild & Griggs, 2008 trích trong Somnuk, 2010): (1) Tổ chức và tất cả nhân viên của tổ chức phải nhận ra sự quan trọng và giá trị của KM. (2) KM phải là sự kết hợp giữa con người và công nghệ. (3) Sự sáng tạo của văn hóa học tập, trao đổi và chia sẻ tri thức rất quan trọng, nó ảnh hưởng sự sáng tạo tri thức mới cho cá nhân và tổ chức. (4) KM là một quá trình nghiêm túc và liên tục.
(5) MK phải tác động lên sự phát triển của cá nhân, công việc và tổ chức. Theo nghiên cứu của Somnuk (2010) KMC bao gồm hai viễn cảnh: viễn cảnh nguồn lực và viễn cảnh tri thức. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu và thường xuyên xem chúng như những yếu tố tác động đến Hiệu quả tổ chức cũng như Hiệu quả quản trị tri thức. John và Martin, 1984; Sanchez và Mahoney, 1996; Semler, 1997; Bennett và Gabriel, 1999; Duffy, 2000; Alavi và Leidner, 2001; Gold et al., 2001; McEvily và Chakravarthy, 2002; Lee và Choi, 2003; Lin và Germain, 2003; Zheng, 2005; Freeze, 2006 trích trong Somnuk, 2010).
Quá trình Hiệu quả Năng lực quản trị tri thức quản trị tri thức quản trị tri thức Hình 2.2: Năng lực, quá trình và hiệu quả tri thức Nguồn: Somnuk, 2010 2.3 Quá trình quản trị tri thức Hiệu quả quản trị tri thức đòi hỏi tổ chức nhận dạng, khởi động, thu nhận, khuếch tán, nắm bắt tri thức nhằm tạo ra lợi thế chiến lược cho tổ chức đó (Kimiz, 2005). Các cách tiếp cận chính chu trình KM (knowledge management cycle) được Kimiz tổng hợp trong bảng 2. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 So sánh các chu trình KM Bảng 2.