Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này sẽ trình bày chi tiết về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài và hạn chế của đề tài nghiên cứu. 7 Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Các nội dung được trình bày trong chương này gồm có: các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu mà đề tài hướng đến đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện, qua đó xác định vấn đề cần nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chương bao gồm các vấn đề sau: trên cơ sở các câu hỏi nghiên cứu, đưa ra lý luận cho việc lựa chọn các biến trong mô hình, xây dựng mô hình nghiên cứu, xây dựng các giả thuyết cần kiểm định, trình bày công cụ phục vụ công tác nghiên cứu, nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện trong đề tài. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Các công việc cần được tiến hành trong chương này gồm các bước sau: phân tích thống kê mô tả và phân tích biến động của các biến, xác định phương pháp ước lượng dữ liệu bảng, kiểm tra sự phù hợp của mô hình nghiên cứu được xây dựng ở chương 3.
Qua đó, đề tài sẽ tiến hành phân tích kết quả hồi qui của mô hình, trình bày các kết quả đạt được gắn với các giả thuyết, xu hướng biến động và dự báo kết quả. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này xem xét nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra chưa, các câu hỏi nghiên cứu đã được trả lời chưa và trình bày các phát hiện chính của nghiên cứu căn cứ vào kết quả phân tích ở chương 4. Từ đó, đề ra các khuyến nghị liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như trình bày những hạn chế mà nghiên cứu không thể đạt được làm tiền đề cho các nghiên cứu sau.
8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu chương Mục tiêu của chương là tìm ra khoảng trống kiến thức cần tiến hành nghiên cứu và là cơ sở để việc xây dựng phương pháp nghiên cứu đảm bảo tính khả thi. Để đạt được mục tiêu trên, chương này sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các nghiên cứu đã được các tác giả trong và ngoài nước thực hiện liên quan đến vấn đề nghiên cứu, qua đó tác giả xác định khoảng trống kiến thức cần nghiên cứu làm tiền đề xác định câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp. Cơ sở lý thuyết của đề tài 2. Hiệu quả hoạt động 2.
Khái niệm Theo Bùi Hữu Phước và các tác giả (2009) thì lợi nhuận của doanh nghiệp thể hiện thành quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp, nó được xem là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho thấy sự nổ lực của doanh nghiệp trong việc tăng doanh thu, giảm chi phí. Như vậy, có thể nói hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp biểu hiện mối tương quan giữa kết quả đầu ra (doanh thu) và chi phí đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2006) cho rằng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi 9 nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động và vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD của doanh nghiệp là mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Trong khái niệm hiệu quả hoạt động SXKD của DN đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng của hoạt động sản xuất, cũng có trường hợp sử dụng nó như là một công cụ để đo lường khả năng đạt đến mục tiêu đã đặt ra (Ngô Đình Giao, 1997 trích bởi Nguyễn Thị Lan Hương, 2006).
Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo Phan Đình Nguyên (2013) để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, có thể sử dụng các chỉ tiêu ROA – Suất sinh lời của tài sản và ROE – Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu. Hai chỉ số này đều được phản ánh thông qua lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế (lãi ròng) Lợi nhuận sau thuế phản ánh phần chênh lệch giữa kết quả đầu ra với chi phí đầu vào trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đây là khoản tiền doanh nghiệp thực nhận sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, được tính bằng công thức sau: Pr = P (1 – t’) = P - Tp t’: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Tp: Thuế thu nhập doanh nghiệp Suất sinh lời của tài sản (return on assets – ROA) Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tính hiệu quả của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. Chỉ số này cho biết bình quân một đồng tài sản bỏ 10 ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lời trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tỷ số này càng cao thể hiện hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng cao. Cách tính như sau: Pr ROA TSbq TSbq: Tổng tài sản bình quân Pr: Lãi ròng (lợi nhuận sau thuế) trong kỳ Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (return on equity – ROE) Chỉ số này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bình quân được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ mang về cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ số này càng cao càng thể hiện khả năng sinh lợi từ vốn cổ phần của doanh nghiệp càng cao. Thông qua chỉ số này, nhà quản trị có thể đánh giá được doanh nghiệp đã kiểm soát tốt và chưa tốt những chi phí nào cũng như việc đánh giá tài sản nào sử dụng có hiệu quả.
Vì vậy, chỉ số này có phần mang tính chủ quan của doanh nghiệp. Pr ROE Vcpbq Vcpbq: Vốn cổ phần bình quân Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu ROA và ROE để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2. Nhóm các yếu tố bên ngoài Nhóm các yếu tố bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá thông qua môi trường pháp lý, môi trường chính trị, văn hóa – xã hội, môi trường kinh tế, tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP.
11 - Môi trường pháp lý: Nguyễn Thị Lan Hương (2006) cho rằng môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm kỹ thuật sản xuất. Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Môi trường pháp lý tạo môi trường hoạt động, một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động SXKD của mình lại vừa điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng chú trọng đến các thành viên khác trong xã hội, quan tâm đến các mục tiêu khác ngoài mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra các chính sách liên quan đến các hình thức thuế, cách tính, thu thuế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Theo Phan Đình Nguyên (2013) thuế thu nhập ảnh hưởng đến lợi ích của công ty (thuế thu nhập doanh nghiệp) và chủ sở hữu (thuế thu nhập cá nhân), nghĩa là ảnh hưởng đến mục tiêu quản trị tài chính công ty. Do đó, hầu hết các quyết định quản trị tài chính đều xem xét đến tác động của thuế một cách trực tiếp hay gián tiếp. - Môi trường chính trị, văn hoá- xã hội: Nguyễn Thị Lan Hương (2006) nhận định môi trường chính trị ổn định sẽ có tác dụng thu hút các hình thức đầu tư nước ngoài liên doanh, liên kết tạo thêm được nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động SXKD của mình. Ngược lại nếu môi trường chính trị rối ren, thiếu ổn định thì không những hoạt động hợp tác SXKD với các doanh nghiệp nước ngoài hầu như là không có mà ngay hoạt động SXKD của doanh nghiệp ở trong nước cũng gặp nhiều bất ổn.
Môi trường văn hoá- xã hội bao gồm các nhân tố điều kiện xã hội, phong tục tập quán, trình độ, lối sống của người dân. Đây là những yếu tố rất gần gũi và có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ có thể duy trì và thu được lợi nhuận khi sản phẩm làm ra phù hợp với nhu cầu, thị hiếu khách hàng, phù hợp với lối sống của người dân nơi tiến hành hoạt động sản xuất. Mà những yếu tố này do các nhân tố thuộc môi trường văn hoá- xã hội quy định.
- Môi trường kinh tế: môi trường kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh. Chẳng hạn như lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền 12 kinh tế có ảnh hưởng tới xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động của các doanh nghiệp. Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng họat động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngoài ra khi lãi suất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do vậy cũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống (Võ Thị Tuyết).
- Tỷ lệ lạm phát: tác giả Đỗ Dương Thanh Ngọc (2011) cho rằng tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá cả leo thang, giá các nguyên liệu đầu vào phục vụ cho thương mại, sản xuất tăng gây khó khăn cho các doanh nghiệp.