Luận án tiến sĩ các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp may việt nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp may, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

241
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Hiệu quả hệ thống thông tin kế toán

Hiệu quả hệ thống thông tin kế toán là một khái niệm đa chiều, được đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Theo DeLone và McLean (1992), tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán bao gồm các yếu tố như chất lượng thông tin, sự hài lòng của người dùng, và giá trị kinh tế mà hệ thống mang lại. Trong bối cảnh doanh nghiệp may Việt Nam, việc đo lường hiệu quả hệ thống thông tin kế toán cần xem xét đến các đặc thù của ngành, bao gồm quy trình sản xuất phức tạp và yêu cầu cao về quản lý thông tin. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, hiệu quả doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào khả năng tối ưu hóa hệ thống thông tin kế toán, đặc biệt trong việc cung cấp thông tin chính xác và kịp thời cho quyết định quản lý.

1.1. Chất lượng thông tin kế toán

Chất lượng thông tin kế toán là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, thông tin kế toán cần đảm bảo tính chính xác, kịp thời và phù hợp với nhu cầu quản lý. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, việc áp dụng công nghệ thông tin trong kế toán giúp cải thiện đáng kể chất lượng thông tin, đồng thời giảm thiểu sai sót trong quy trình kế toán. Tuy nhiên, việc triển khai công nghệ thông tin cần được thực hiện đồng bộ với việc đào tạo nguồn nhân lực để đảm bảo hiệu quả tối đa.

1.2. Sự hài lòng của người dùng

Sự hài lòng của người dùng là một chỉ báo quan trọng của hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, việc đảm bảo sự hài lòng của người dùng đòi hỏi hệ thống phải dễ sử dụng, linh hoạt và đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của người dùng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hỗ trợ từ nhà quản lý và môi trường làm việc tích cực là những yếu tố quan trọng giúp nâng cao sự hài lòng của người dùng đối với hệ thống thông tin kế toán.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hệ thống thông tin kế toán

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp may Việt Nam bao gồm cả yếu tố nội bộ và bên ngoài. Các yếu tố nội bộ như đặc điểm tổ chức, năng lực người dùng, và quy trình kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả của hệ thống. Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như sự phát triển của công nghệ thông tin và yêu cầu từ thị trường cũng có tác động đáng kể. Việc xác định và phân tích các yếu tố này giúp doanh nghiệp có chiến lược phù hợp để tối ưu hóa hệ thống thông tin kế toán.

2.1. Đặc điểm tổ chức

Đặc điểm tổ chức là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, quy mô và cơ cấu tổ chức có tác động lớn đến việc triển khai và vận hành hệ thống thông tin kế toán. Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường có nguồn lực dồi dào hơn để đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân viên, từ đó nâng cao hiệu quả của hệ thống. Ngược lại, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc triển khai hệ thống do hạn chế về nguồn lực.

2.2. Năng lực người dùng

Năng lực người dùng là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, việc đào tạo và nâng cao kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cho nhân viên kế toán là rất cần thiết. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, nhân viên có trình độ cao và được đào tạo bài bản sẽ sử dụng hệ thống thông tin kế toán hiệu quả hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng thông tin và hiệu quả quản lý.

III. Tác động của công nghệ đến hệ thống thông tin kế toán

Công nghệ thông tin đã thay đổi cách thức hoạt động của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp may Việt Nam. Việc áp dụng các công nghệ mới như ERP, AI, và Big Data giúp tự động hóa quy trình kế toán, giảm thiểu sai sót và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, việc triển khai công nghệ cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc đào tạo nhân viên và đảm bảo an ninh thông tin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tác động của công nghệ đến kế toán là không thể phủ nhận, nhưng cần có chiến lược phù hợp để tận dụng tối đa lợi ích mà công nghệ mang lại.

3.1. Tự động hóa quy trình kế toán

Tự động hóa quy trình kế toán là một trong những lợi ích lớn nhất mà công nghệ thông tin mang lại cho hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, việc tự động hóa giúp giảm thiểu thời gian và công sức trong việc xử lý dữ liệu, đồng thời nâng cao độ chính xác của thông tin. Tuy nhiên, việc triển khai tự động hóa cần được thực hiện đồng bộ với việc đào tạo nhân viên và cải thiện cơ sở hạ tầng công nghệ.

3.2. An ninh thông tin

An ninh thông tin là một thách thức lớn khi áp dụng công nghệ thông tin trong hệ thống thông tin kế toán. Trong doanh nghiệp may Việt Nam, việc đảm bảo an ninh thông tin đòi hỏi sự đầu tư vào các giải pháp bảo mật và đào tạo nhân viên về các quy trình an toàn thông tin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, việc xây dựng một hệ thống bảo mật mạnh mẽ là yếu tố quan trọng để bảo vệ dữ liệu kế toán và duy trì hiệu quả doanh nghiệp.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của nghiên cứu này đã đưa ra lý do về mặt lý luận và thực tiễn khi lựa chọn đề tài. Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng hợp cơ sở lý luận về tính hữu hiệu của HTTTKT, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp may Việt Nam và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của HTTTKT tại các doanh nghiệp may Việt Nam. Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã đưa ra 4 câu hỏi nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.

Tổng quan nghiên cứu Trong nội dung này, tác giả tổng hợp các công trình có liên quan phân theo nhóm chủ đề nghiên cứu, gồm: (i) các nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT; (ii) các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của HTTTKT, trên thế giới và tại Việt Nam, để xác định khoảng trống nghiên cứu (gap/room). Tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Chủ đề về tính hữu hiệu của HTTT và HTTTKT được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm bởi nhu cầu về chất lượng thông tin nói chung và thông tin kế toán nói riêng của người ra quyết định ngày càng tăng lên. Các nhà nghiên cứu cho rằng, tính hữu hiệu của HTTT, HTTTKT là sự hài lòng về thông tin được sử dụng hay nhận thức của người sử dụng hệ thống về mức độ mà hệ thống đáp ứng yêu cầu thông tin của họ (Ives và cộng sự, 1983; Marshall,1972; Barki và Hartwick, 1994). Tính hữu hiệu thể hiện ở khả năng hoàn thành mục tiêu của chính hệ thống (Hamilton và Chervany, 1981), đạt được mục tiêu của tổ chức (Raymond, 1990); hỗ trợ quá trình ra quyết định của nhà quản trị (Gordon và cộng sự, 1978; Pierre và cộng sự, 2013; Kharuddin và cộng sự, 2010; Thong và Yap, 1996; Sajady và cộng sự, 2008), làm tăng giá trị cho doanh nghiệp, tạo ra thay đổi tích cực trong hành vi của người sử dụng và năng suất được cải thiện (Gatian, 1994).

Tại Việt Nam, những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã quan tâm hơn đến việc đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT nhưng các nghiên cứu chưa thực sự nhiều. HTTTKT là một thành phần quan trọng của HTTT. Các nghiên cứu trước chủ yếu dựa trên nền tảng lý thuyết về HTTT để đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT. Là một khái niệm có tính chất đa diện, “tính hữu hiệu” được các nhà nghiên cứu đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một số tiêu chí/thành phần/khía cạnh như: chất lượng HTTTKT, sự hài lòng của người sử dụng.

Do vậy, tác giả tiến hành lựa chọn các nghiên cứu có từ khóa tương đương như: tính hữu hiệu, chất lượng, sự thành công. của HTTT và HTTTKT, để tổng hợp các nghiên cứu về tính hữu hiệu của HTTTKT. Các nhà nghiên cứu trước đã đưa ra quan điểm, cách tiếp cận khác nhau để lựa chọn các tiêu chí và phương pháp đánh giá tính hữu hiệu của HTTT và HTTTKT. * Đánh giá HTTTKT hữu hiệu dựa trên cách thức mà HTTTKT thực hiện để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, thể hiện giá trị kinh tế mà hệ thống mang lại cho doanh nghiệp.

8 Sajady và cộng sự (2008) đã đề xuất 5 giả thuyết cho rằng một HTTTKT hữu hiệu là một hệ thống nâng cao chất lượng báo cáo tài chính; KSNB hiệu quả; hỗ trợ ra quyết định của nhà quản lý; xử lý giao dịch tài chính thuận lợi hơn và cải thiện thước đo hiệu quả hoạt động. Với dữ liệu khảo sát được thu thập từ 347 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Tehran, nhóm tác giả sử dụng kiểm định Z, kiểm định Chi-square với độ tin cậy 95% để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy, HTTTKT hữu hiệu thể hiện ở việc KSNB hiệu quả; nâng cao chất lượng báo cáo tài chính; hỗ trợ ra quyết định của nhà quản lý; xử lý giao dịch tài chính thuận lợi hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đã bác bỏ giả thuyết cho rằng HTTTKT hữu hiệu làm cải thiện thước đo hiệu quả hoạt động.

Kế thừa nghiên cứu của Sajady và cộng sự (2008), Le Ngoc My Hang và Hoang Giang (2012) thực hiện đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT tại các hợp tác xã ở Thừa Thiên Huế. Nhóm tác giả đã đề xuất 6 biến quan sát đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT, gồm: KSNB; quá trình ra quyết định; chất lượng báo cáo tài chính; sự thỏa mãn của người sử dụng; quá trình xử lý nghiệp vụ phát sinh và chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy, HTTTKT được thực hiện tại các hợp tác xã ở Huế đã cải thiện KSNB, quá trình ra quyết định, cải thiện chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động, chất lượng báo cáo tài chính, thỏa mãn thông tin của người sử dụng và giúp quá trình xử lý nghiệp vụ phát sinh dễ dàng hơn. Điều này thể hiện sự khác biệt so với kết quả nghiên cứu của Sajady và cộng sự (2008).

Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này chỉ xem xét HTTTKT hữu hiệu dưới góc độ phần mềm kế toán, nên chưa đánh giá được tính hữu hiệu của tổng thể HTTTKT. Cùng quan điểm, thông qua khảo sát các nhà quản lý, kế toán viên, kiểm toán viên tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Thị Kim Ngọc (2013) đã đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo 7 tiêu chí được nhận diện từ các nghiên cứu trước và 1 tiêu chí bổ sung cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại DNNVV Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện phân tích dữ liệu khảo sát bởi phần mềm SPSS, kết quả cho thấy, có 7 nhóm tiêu chí đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT, gồm: quá trình xử lý nghiệp vụ dễ dàng hơn, tăng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động, thỏa mãn nhu cầu người sử dụng thông tin, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính, cải thiện hệ thống KSNB, cải thiện quá trình ra quyết định và HTTTKT tích hợp. Một phát hiện mới trong nghiên cứu này là tiêu chí quá trình xử lý nghiệp vụ dễ dàng hơn và làm tăng năng suất trung bình của doanh nghiệp (một chỉ tiêu trong đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp) có sự khác biệt giữa lĩnh vực nghề nghiệp của người được khảo sát và quy mô doanh nghiệp.

9 Dựa trên lý thuyết nền tảng về tính hữu hiệu của HTTT, lý thuyết thẻ điểm cân bằng, lý thuyết của DeLone và McLean (1992) và nghiên cứu của Doll và Torkzadeh (1988), Vũ Quốc Thông (2017) đã đánh giá một HTTTKT hữu hiệu thông qua sự hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng lực kinh doanh và đáp ứng với thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT giúp nhà quản lý nhận thức được mức độ hữu hiệu của HTTTKT với khả năng hỗ trợ doanh nghiệp (33,92%), nâng cao năng lực kinh doanh (33,76%) và đáp ứng với thị trường (32,32%). Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ đánh giá tính hữu hiệu với đơn vị phân tích là nhà quản lý doanh nghiệp, chưa xem xét đến tác động của chất lượng hệ thống và của người sử dụng HTTTKT. * Đánh giá HTTTKT hữu hiệu dựa trên sự hài lòng của người sử dụng thông qua sự hỗ trợ của HTTTKT.

Thong và Yap (1996) đã chỉ ra một số nguyên tắc khi lựa chọn sự hài lòng của người sử dụng làm thang đo cho tính hữu hiệu của HTTT. Thứ nhất, các nhà nghiên cứu cần phải đưa ra lý thuyết rõ ràng về quan điểm lấy sự hài lòng của người sử dụng làm thang đo cho tính hữu hiệu của hệ thống. Thứ hai, các nhà nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết cơ bản về đo lường tính hữu hiệu của HTTT. Người được chọn để trả lời khảo sát phải phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, có thể là người sử dụng hệ thống, nhà quản lý hay nhân viên bộ phận HTTT.

Thứ ba, cần tìm ra công cụ mới về sự hài lòng của người sử dụng là thăm dò tâm lý (psychometrically-sound) và dựa trên những lý thuyết tốt hơn những lý thuyết đang bị chỉ trích hiện tại. Thứ tư, đánh giá tính hữu hiệu của HTTT cần tiếp cận theo nhiều quan điểm đánh giá khác nhau, bao gồm cả đánh giá chủ quan và khách quan. Theo quan điểm này, Nicolaou (2000) đánh giá tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo “sự hài lòng của người sử dụng về thông tin” hay là nhận thức của người sử dụng về mức độ mà HTTTKT đáp ứng yêu cầu thông tin của họ. Nicolaou (2000) cho rằng tính hữu hiệu của HTTTKT thể hiện tính hữu ích của thông tin kế toán.

Vì vậy, với nghiên cứu thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa sự phù hợp của HTTTKT và nhận thức về tính hữu hiệu của HTTTKT, tác giả xác định tính hữu hiệu của HTTTKT dựa theo nhận thức của những người ra quyết định về những thông tin đầu ra có sẵn, thông qua hệ thống xử lý giao dịch, các báo cáo quản trị và hệ thống ngân sách có đáp ứng yêu cầu của họ trong việc sắp xếp và kiểm soát tổ chức không. Tuy nhiên, cách tiếp cận tính hữu hiệu của HTTTKT trong nghiên cứu của Nicolaou (2000) dựa theo sự hài lòng của người sử dụng thông tin là chưa đủ. Kế thừa thang đo sự hài lòng của người dùng của Doll và Torkzadeh (1988), 10 Trương Thị Cẩm Tuyết (2016) đo lường tính hữu hiệu của HTTTKT gồm 5 thành phần với 12 biến quan sát là nội dung, chính xác, định dạng, dễ sử dụng, kịp thời. Các thành phần này thể hiện sự hài lòng của người sử dụng gắn với thông tin đầu ra của HTTTKT.

Kết quả phân tích cho thấy, 12 biến quan sát có tương quan với nhau và đại diện cho khái niệm nghiên cứu, thể hiện tính hữu hiệu của HTTTKT được đánh giá dựa theo sự hài lòng của người sử dụng là phù hợp với nghiên cứu. Sử dụng thang đo sự hài lòng của người sử dụng về chất lượng thông tin đầu ra của Doll và Torkzadeh (1991), Le và cộng sự (2020) đã đánh giá tính hữu hiệu của HTTT quản lý tại các DNNVV dựa theo chất lượng thông tin được quy định trong chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực kế toán Việt Nam, gồm: tính chất liên quan, tính trung thực, dễ hiểu, dễ sử dụng và tính bảo mật thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp may Việt Nam" phân tích sâu về những yếu tố then chốt tác động đến hiệu quả của hệ thống thông tin kế toán trong ngành may mặc. Các yếu tố được đề cập bao gồm công nghệ, quy trình quản lý, nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh. Tài liệu này không chỉ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa hệ thống thông tin kế toán mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn để nâng cao hiệu quả hoạt động. Để mở rộng kiến thức về công nghệ và quản lý thông tin, bạn có thể tham khảo thêm Nghiên cứu xây dựng cloud storage và vpn trong điện toán đám mây sử dụng devstack luận văn thạc sĩ, Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính nghiên cứu các phương pháp trích xuất thông tin trong ảnh tài liệu và ứng dụng, và Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính hỗ trợ suy luận trong điều khiển truy xuất dữ liệu gis. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về các công nghệ hiện đại và ứng dụng của chúng trong quản lý thông tin.