CHƯƠNG 1: Chương này tác giả đã tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hệ thống KSNB dựa trên cơ sở chọn lọc các nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố, nêu lên được các đóng góp của các đề tài cũng như các hạn chế còn chưa được nghiên cứu để từ đó tác giả đưa ra khoảng trống nghiên cứu và sự cần thiết phải thực hiện đề tài này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 2.1 Lý thuyết nền sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Lý thuyết đại diện Bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế, lý thuyết đại diện được phát triển từ Alchian và Demsetz năm 1972, phát triển mạnh từ năm 1976 bởi Jensen và Meckling. Trong lý thuyết này đề cập đến mối quan hệ giữa các cổ đông là các chủ sở hữu hay người đứng đầu công ty và người được ủy quyền đại diện cho các cổ đông là các giám đốc hay người quản lý. Các cổ đông luôn kỳ vọng người đại diện ra quyết định vì lợi ích của họ nhưng người đại diện thì không luôn luôn ra các quyết định vì lợi ích lớn nhất của các cổ đông (Padilla, 2000).
Do đó, tồn tại khả năng người đại diện không thực hiện hết những yêu cầu của người sở hữu vốn đề ra, dẫn tới xung đột lợi ích giữa người sở hữu vốn và người đại diện. Trong hoạt động quản lý, sẽ xảy ra những trường hợp nhà quản lý vì lợi ích riêng của cá nhân mà bỏ qua lợi ích chung của tập thể, hay những rủi ro bên ngoài làm ảnh hưởng tới nhiệm vụ được giao. Nhằm ngăn chặn các vấn đề trên để đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả, các đơn vị thuộc ngành giải trí cần thực thi KSNB chặt chẽ vì khi hệ thống này hoạt động có hiệu quả sẽ giảm thiểu những tổn thất và rủi ro xảy ra; cần thiết lập những cơ chế tổ chức và cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những rủi ro trên, nhằm dung hòa lợi ích của cả 2 bên. Khi áp dụng lý thuyết này vào bài nghiên cứu, tác giả kỳ vọng rằng hệ thống KSNB sẽ được Ban lãnh đạo quan tâm xây dựng để đáp ứng được yêu cầu hoạt động kinh doanh đặt ra hiện nay.
Bởi vì các chủ sở hữu đơn vị luôn mong muốn thu được lợi nhuận cao, bên cạnh đó cũng phải hoạt động hiệu quả. Khi xây dựng một môi trường kiểm soát chuyên nghiệp, chú trọng vào công tác quản lý rủi ro, xây dựng các hoạt động kiểm soát, đảm bảo được thông tin và truyền thông và giám sát hiệu quả thì sẽ tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, khi đó sẽ giúp người đại diện các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao của mình, tránh được xung đột lợi ích giữa Chủ sở hữu và Ban lãnh đạo đơn vị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nhóm Lý thuyết về hành vi - tâm lý xã hội - quan hệ con người Nhóm lý thuyết này đề cao vai trò của con người trong tổ chức. Lý thuyết này đã xuất hiện từ những năm 1930 và hiện nay nó vẫn được nghiên cứu tại nhiều quốc gia trên thế giới vì tính phức tạp của tâm lý con người, một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu về quản trị.
Lý thuyết này đã nêu lên quan điểm rằng hiệu quả của quản trị do năng suất lao động quyết định, trong đó năng suất lao động không chỉ do các yếu tố thuộc về vật chất mà còn phụ thuộc vào các yếu tố tâm lý, nhu cầu xã hội của con người. Các tác giả khi nghiên cứu về hành vi con người cũng cho rằng hành vi của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội. Bà Mary Parker Follet - người Mỹ (1868-1933) là tác giả của lý thuyết quan hệ con người trong tổ chức, bà là nhà nghiên cứu quản trị ngay từ những năm 20 đã chú ý đến tâm lý trong quản trị. Bà đã cho rằng có mối quan hệ giữa nhà quản trị và nhân viên trong quá trình làm việc, hiệu quả quản trị phụ thuộc vào việc giải quyết mối quan hệ này.
Bà đã nhấn mạnh rằng nhà quản trị phải quan tâm đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân viên, khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì phải luôn năng động thay vì nguyên tắc cứng nhắc. Trong lý thuyết này còn có nghiên cứu của Douglas Mc Gregor (1906-1964) ông cũng là người Mỹ. Ông đã đưa ra những giả thuyết đối lập với những giả thuyết sai lầm trước đó khi cho rằng mọi người phần đông đều không thích làm việc và làm việc chỉ vì lợi ích vật chất. Ông đã đưa ra các giả thuyết thường gọi là thuyết Y, ông cho rằng mọi người sẽ thích thú làm việc nếu họ có thuận lợi và được đóng góp nhiều hơn cho tổ chức.
Ông nhấn mạnh thay vì kiểm tra chặt chẽ thì nhà quản trị nên quan tâm hơn đến sự phối hợp trong hoạt động. Có thể nói lý thuyết về hệ thống nhu cầu con người của Maslow là lý thuyết nổi trội nhất trong nhóm các lý thuyết tác phong. Ông đã xây dựng nên tháp nhu cầu của con người gồm có 5 cấp bậc được xếp từ thấp lên cao theo thứ tự: (1) nhu cầu vật chất, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng và (5) nhu cầu tự hoàn thiện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 Trong các doanh nghiệp tư nhân, để đạt được mục tiêu của đơn vị thì cần có sự tham gia của tất cả các thành viên trong tổ chức từ cấp lãnh đạo đến nhân viên.
Hệ thống KSNB sẽ hữu hiệu khi tất cả thành viên đều có nhận thức, hành vi đúng đắn trong công tác, đặc biệt là cấp lãnh đạo phải có năng lực trong quản lý. Nhà lãnh đạo, quản lý phải hiểu rõ nhu cầu của nhân viên mình để tạo động lực và truyền nhiệt huyết cho họ. Bên cạnh đó, nhân cách đạo đức, tác phong, hành vi và giao tiếp của nhà lãnh đạo, quản lý cũng có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến động lực làm việc của người công chức. Khi áp dụng lý thuyết này vào bài nghiên cứu, tác giả kỳ vọng rằng Ban lãnh đạo các đơn vị sẽ xây dựng một môi trường làm việc năng động, văn hóa, đạo đức, đảm bảo phát huy năng lực của nhân viên để đạt được hiệu quả kinh doanh.
Các nhà lãnh đạo cần phải nắm bắt rõ được tâm tư nguyện vọng của các nhân viên tại đơn vị để từ đó đưa ra các chiến lược, các quyết định, xây dựng cơ cấu tổ chức cho phù hợp, tăng cường tính dân chủ, phát huy hết vai trò, khả năng và sáng kiến trong công việc của từng cá nhân, đảm bảo được thông tin trong đơn vị được xuyên suốt.2 Tổng quan về hệ thống KSNB 2.1 Các khái niệm nghiên cứu 2.1 Khái niệm về kiểm soát nội bộ Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa KSNB “là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách” Theo quan điểm của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC): “Kiểm soát nội bộ là một hệ thống gồm các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả của hoạt động” Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315: “Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”. [Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 thay thế chuẩn mực 400 Theo báo cáo COSO năm 1992: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, người quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; Sự tin cậy của BCTC; Sự tuân thủ các luật lệ và quy định” Sau hơn 20 năm, COSO đã cập nhật khuôn mẫu hệ thống KSNB mới là báo cáo COSO 2013. Tuy nhiên, định nghĩa về kiểm soát nội bộ không có gì thay đổi. Qua các quan điểm trên về KSNB thì KSNB rất cần thiết trong bất kỳ lĩnh vực tổ chức nào.
KSNB gồm những nội dung chính như sau: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình: nhấn mạnh Hệ thống KSNB là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện liên tục ở mọi bộ phận trong đơn vị. Quá trình kiểm soát nội bộ chính là công cụ hữu hiệu để đơn vị đạt được các mục tiêu đã đặt ra. - Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: Toàn bộ những con người trong một tổ chức đặt ra các mục tiêu cùng với những cơ chế kiểm soát và thực thi hệ thống KSNB. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân có khả năng, cách thức, tư duy và hành động khác nhau, do đó kiểm soát nội bộ sẽ tác động đến ý thức kiểm soát và hướng các hoạt động của từng thành viên đến mục tiêu chung của đơn vị.
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt được. Nguyên nhân là do trong quá trình vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí thiết lập nên hệ thống KSNB. Do đó, dù chi phí đầu tư cho việc thiết kế và vận hành hệ thống tại các đơn vị khá cao nhưng vẫn không thể tạo ra một hệ thống kiểm soát nội bộ hoàn hảo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.