Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số pe và ứng dụng hệ số pe trong phương pháp định giá so sánh trên thị trường chứng khoán việt nam luận án tiến sỹ kinh tế

Khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số PE và ứng dụng trong định giá so sánh trên thị trường chứng khoán Việt Nam qua luận án tiến sỹ kinh tế.

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

250
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hệ số P E và tầm quan trọng trong định giá chứng khoán

Hệ số P/E (Price/Earnings) là một trong những chỉ số quan trọng nhất trong phân tích và định giá chứng khoán. Được giới thiệu lần đầu bởi Graham và Dodd (1934), hệ số này đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường của cổ phiếu và thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS). P/E được sử dụng rộng rãi trong phương pháp định giá so sánh, giúp nhà đầu tư đánh giá mức độ hấp dẫn của cổ phiếu. Tuy nhiên, việc sử dụng P/E cần được kết hợp với các yếu tố khác như tốc độ tăng trưởng, rủi ro, và dòng tiền để đảm bảo tính chính xác.

1.1. Cơ sở lý thuyết về hệ số P E

Cơ sở lý thuyết của P/E dựa trên mô hình chiết khấu dòng tiền và mô hình tăng trưởng đều Gordon (GGM). Công thức của Beaver và Morse (1978) xác định ba yếu tố chính ảnh hưởng đến P/E: lãi suất chiết khấu, tốc độ tăng trưởng, và tỷ lệ chi trả cổ tức. Các yếu tố này giúp giải thích sự biến động của P/E giữa các cổ phiếu và ngành khác nhau.

1.2. Ứng dụng của hệ số P E trong thị trường chứng khoán Việt Nam

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, P/E được sử dụng phổ biến trong các báo cáo phân tích và khuyến nghị đầu tư. Tuy nhiên, việc áp dụng P/E cần lưu ý đến đặc thù của thị trường, bao gồm sự biến động cao và tính thanh khoản thấp. Nghiên cứu cho thấy P/E của ngành tài chính có sự khác biệt đáng kể so với các ngành khác, điều này cần được xem xét khi sử dụng P/E trong định giá.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số P E

Nghiên cứu đã xác định 09 yếu tố có tác động có ý nghĩa thống kê đến P/E trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các yếu tố này bao gồm: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Giá trị sổ sách trên 01 cổ phần (BVPS), Quy mô công ty (SIZE), hệ số BETA, Mức độ biến động giá (SD), Tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt (POR), Đòn bẩy tài chính (DA), Chất lượng quản trị công ty (CG), và Lãi suất cho vay (LIR). Trong đó, SIZE, POR, và CG có tác động cùng chiều, trong khi các yếu tố còn lại có tác động ngược chiều.

2.1. Phân tích tác động của các yếu tố tài chính

Các yếu tố tài chính như ROE, BVPS, và DA có ảnh hưởng đáng kể đến P/E. ROE phản ánh khả năng sinh lời của công ty, trong khi BVPS thể hiện giá trị sổ sách của cổ phiếu. DA (Đòn bẩy tài chính) cho thấy mức độ rủi ro tài chính của công ty, điều này có thể làm giảm P/E do nhà đầu tư yêu cầu tỷ suất sinh lời cao hơn.

2.2. Tác động của yếu tố quản trị và thị trường

Chất lượng quản trị công ty (CG) và mức độ biến động giá (SD) cũng là những yếu tố quan trọng. CG tốt giúp tăng niềm tin của nhà đầu tư, từ đó nâng cao P/E. Ngược lại, SD cao phản ánh sự biến động lớn trong giá cổ phiếu, làm giảm P/E do rủi ro tăng lên.

III. Ứng dụng hệ số P E trong định giá chứng khoán

Hệ số P/E được sử dụng rộng rãi trong phương pháp định giá so sánh, đặc biệt là trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, việc sử dụng P/E cần được kết hợp với các mô hình định giá khác như chiết khấu dòng tiền (DCF) để đảm bảo tính chính xác. Nghiên cứu cho thấy các báo cáo phân tích sử dụng kết hợp P/EDCF có tỷ lệ chính xác cao hơn so với việc sử dụng đơn lẻ một mô hình.

3.1. Phương pháp định giá so sánh sử dụng P E

Phương pháp định giá so sánh sử dụng P/E dựa trên việc so sánh P/E của công ty mục tiêu với P/E của các công ty tương tự trong cùng ngành. Tuy nhiên, việc lựa chọn nhóm công ty so sánh cần được thực hiện cẩn thận để tránh sai lệch trong kết quả định giá.

3.2. Kết hợp P E với các mô hình định giá khác

Kết hợp P/E với các mô hình định giá khác như DCF giúp tăng độ chính xác của kết quả định giá. Nghiên cứu cho thấy các báo cáo sử dụng kết hợp P/EDCF có tỷ lệ chính xác cao hơn so với việc sử dụng đơn lẻ một mô hình.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến P/E và ứng dụng của P/E trong định giá chứng khoán tại thị trường Việt Nam. Các nhà đầu tư và nhà phân tích cần lưu ý đến các yếu tố này khi sử dụng P/E trong phân tích và định giá. Đồng thời, việc kết hợp P/E với các mô hình định giá khác như DCF sẽ giúp nâng cao độ chính xác của kết quả định giá.

4.1. Khuyến nghị cho nhà đầu tư và nhà phân tích

Nhà đầu tư và nhà phân tích nên sử dụng P/E kết hợp với các mô hình định giá khác để đảm bảo tính chính xác. Đồng thời, cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến P/E như ROE, BVPS, và CG khi đưa ra quyết định đầu tư.

4.2. Khuyến nghị cho cơ quan quản lý và doanh nghiệp

Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản trị công ty (CG) và minh bạch thông tin tài chính để tăng niềm tin của nhà đầu tư, từ đó nâng cao P/E và giá trị cổ phiếu.

01/03/2025
Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số pe và ứng dụng hệ số pe trong phương pháp định giá so sánh trên thị trường chứng khoán việt nam luận án tiến sỹ kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LUẬN ÁN 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu Trong quy trình đầu tư, phân tích và đánh giá các cơ hội đầu tư là một công đoạn rất quan trọng, giúp các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư hiệu quả, gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Các phương pháp phân tích đầu tư được áp dụng cũng rất đa dạng được dựa nên các lý thuyết nền tảng khác nhau. Trong dòng chảy của lý thuyết đầu tư, có lẽ đầu tư giá trị là quan điểm đầu tư ra đời sớm nhất, lý thuyết đầu tư được các nhà đầu tư tư tổ chức và cá nhân sử dụng phổ biến nhất, có ảnh hưởng lâu dài và bền vững nhất trên thị trường chứng khoán.

Quan điểm đầu tư giá trị cũng là cơ sở chủ yếu để xây dựng và thiết kế quy trình đầu tư của các nhà đầu tư tổ chức và chuyên nghiệp. Trong quan điểm đầu tư giá trị nói chung và phân tích cơ bản nói riêng, định giá (Valuation) đóng vai trò rất quan trọng. Một công ty tốt không đồng nghĩa với cổ phiếu tốt, bởi điều quan trọng là nhà đầu tư phải mua cổ phiếu với giá nào. Graham (1949, 1973) cho rằng mỗi cổ phiếu đều có một giá trị nội tại (Intrinsic Value) dựa vào các yếu tố bên trong và bên ngoài công ty; và có thể xác định được bằng các phương pháp định giá.

Trong dài hạn, giá thị trường của cổ phiếu sẽ dao động quanh và tiệm cận với giá trị nội tại. Do vậy, định giá cổ phiếu, hay xác định giá trị nội tại rồi so sánh với giá thị trường, là cơ sở rất quan trọng của việc ra các quyết định đầu tư. Bradshaw (2002) cho rằng phần lớn các báo cáo phân tích của các nhà đầu tư tổ chức sử dụng giá mục tiêu (target price) được xác định bởi các mô hình định giá làm cơ sở đưa ra khuyến nghị đầu tư. Trong các phương pháp định giá, định giá so sánh (Comparable Valuation) là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất, đồng thời hệ số giá trên thu nhập (hệ số P/E) là hệ số được sử dụng phổ biến nhất trong các mô hình định giá so sánh.

Hệ số P/E được giới thiệu lần đầu tiên bởi Graham và Dodd (1934) trong cuốn sách nổi tiếng Phân tích chứng khoán (Security Analysis). Kể từ đó, chỉ số P/E đã trở thành một trong những chỉ số phân tích được các nhà đầu tư, nhà phân tích sử dụng nhiều 1 nhất trên thế giới. Theo Block (1999), P/E là hệ số được các nhà đầu tư, nhà phân tích sử dụng phổ biến nhất và được truyền thông trích dẫn nhiều nhất. Nghiên cứu của Demirakos và Ctg (2004), Dukes và Ctg (2006), Imam và Ctg 2008), Imam và Ctg (2013), Pinto và Ctg (2019) cũng cho thấy tần suất xuất hiện của phương pháp định giá so sánh là vượt trội so với các phương pháp khác kể cả phương pháp chiết khấu dòng tiền, trong đó bội số thu nhập (P/E) là mô hình định giá so sánh được sử dụng phổ biến nhất.

Theo kết quả khảo sát các nhà đầu tư tổ chức của BofA Merrill Lynch năm 2012 (BofA Merrill Lynch Institutional Factor Survey 2012), hệ số P/E là nhân tố được sử dụng nhiều nhất trong tất cả các hệ số cơ bản và kỹ thuật với 81% nhà đầu tư được khảo sát trả lời khảo sát có sử dụng hệ số này trong việc ra quyết định đầu tư. Damoradan (2012) cho rằng, trong tất cả các bội số thì P/E là bội số được sử dụng rộng rãi nhất, đồng thời cũng bị sử dụng sai nhiều nhất. Trong quy trình định giá so sánh, việc lựa chọn các công ty so sánh để xác định hệ số P/E tham chiếu đóng vai trò then chốt. Lựa chọn nhóm công ty so sánh theo ngành, lĩnh vực kinh doanh là một phương pháp được sử dụng phổ biến.

Tuy nhiên, cũng như nhiều bội số khác, hệ số P/E cũng chưa tính đến nhiều nhân tố quan trọng tác động đến giá trị của cổ phiếu như tiềm năng tăng trường, rủi ro, dòng tiền. Trên thực tế có những cổ phiếu luôn duy trì mặt bằng hệ số P/E cao hơn hoặc thấp hơn các cổ phiếu trong suốt thời gian dài. Một cổ phiếu có P/E cao hơn hoặc thấp hơn P/E của cổ phiếu khác, cao hoặc thấp hơn hơn mức bình quân của ngành, thị trường là chưa đủ để kết luận rằng cổ phiếu đang bị định giá cao (overvalued) hay bị định giá thấp (undervalued). Do đó, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến hệ số P/E có ý nghĩa quan trọng khi sử dụng hệ số P/E trong phân tích và trong phương pháp định giá so sánh.

Cơ sở lý thuyết của việc xác định các nhân tố tác động đến hệ số P/E chủ yếu dựa vào các nguyên lý chung của mô hình định giá chiết khấu dòng tiền, mô hình tăng trưởng đều Gordon (GGM) và công thức do Beaver và Morse (1978). Đặc biệt công thức của Beaver và Morse (1978) xác định 03 yếu tố cơ bản tác động đến hệ số P/E bao gồm: Lãi suất chiết khấu, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ chi trả cổ tức. Trên nền 2 tảng các nhân tố cơ bản tác động đến hệ số P/E như trên, các nhà nghiên cứu có thể phân chia thành nhiều nhân tố nhỏ hơn hoặc các nhân tố tác động mang tính trung gian. Việc xác định các nhân tố tác động cụ thể có thể dựa vào những cơ sở lý thuyết khác nhau.

Ví dụ như, tác động của Hệ số Beta và mức độ biến động giá có thể giải thích thông qua Lý thuyết thị trường vốn (Capital Market Theory – CMT) do Sharpe (1964) phát triển, tác động của quy mô công ty đến hệ số P/E có thể được giải thích thông qua Mô hình Fama – French (FFM) do Fama và French (1993) phát triển. Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động đến hệ số P/E chủ yếu được trình bày rải rác trong các nghiên cứu thực nghiệm. Có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến hệ số P/E bao gồm cả nhóm các nhân tố cụ thể của cổ phiếu và các nhóm nhân tố vĩ mô tại các thị trường phát triển như : Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Châu Âu… hay các thị trường mới nổi như Paskistan, Bangladesh, Indonesia, Jordan, Thổ Nhĩ Kỳ … Các nghiên cứu của Kisor và Witbeck (1963), Malkiel và Cragg (1970), Cho (1994), các nghiên cứu trong gian đoạn 1987 – 1991 của Damoradan (2002) chủ yếu nghiên cứu 03 yếu tố cơ bản tác động đến hệ số P/E bao gồm tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt và hệ số Beta. Các nghiên cứu này cũng chỉ nghiên cứu các nhân tố tác động đến hệ số P/E trong một năm cụ thể bằng mô hình hồi quy OLS.

Tuy còn giản đơn về biến nghiên cứu và phương pháp phân tích dữ liệu, nhưng đây là những nghiên cứu mang tính tiên phong, đặt nền móng cho việc ước lượng các nhân tố tác động đến hệ số P/E bằng mô hình hồi quy. Nghiên cứu của Afza và Tahir (2012), Arslan và Ctg (2017), Farah Freihat (2019), Krishnan và Chen (2020). tiêu biểu cho xu hướng bổ sung các nhân tố tác động đến hệ số P/E vào mô hình nghiên cứu, đặc biệt là các chỉ số tài chính; đồng thời sử dụng các mô hình mô hình phân tích phù hợp với dữ liệu bảng như Pooled OLS, FEM, REM, GMM. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong sự hiểu biết về vấn đề này, tác động của các yếu tố phi tài chính đến hệ số P/E chưa được nghiên cứu.

Các nghiên cứu về tác động của chất lượng quản trị công ty đến giá trị công ty trên thế giới và tại Việt Nam như nghiên cứu của Gomper và Ctg (2003), Bauer và Ctg (2004), Luo và Salterio (2014), Trần Nhân Phúc (2017) … chủ yếu sử dụng hệ số Tobin’Q 3 hoặc hệ số P/B là chỉ tiêu đo lường giá trị công ty…Các nghiên cứu này cho thấy, chất lượng quản trị công ty có thể tác động đến hiệu quả kinh doanh và từ đó tác động đến giá trị của công ty. Nhưng hầu như vẫn chưa có các nghiên cứu về tác động quả chất lượng quản trị công ty đến hệ số P/E. Việc tác động đến hệ số P/E có thể chứng minh, chất lượng quản trị công ty có thể tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu trên thị trường bên cạnh việc tác động đến hiệu quả kinh doanh. Một số các nhân tố quan trọng khác như: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), Giá trị số sách trên 1 cổ phần (BVPS), tỷ lệ chi trả cổ tức (POR), đòn bẩy tài chính (DA).

còn có nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm không thống nhất hoặc không thống nhất với cơ sở lý thuyết. Nghiên cứu của Arslan và Ctg (2017), Dutta và Ctg (2018) có đề cập đến tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) trong mô hình nghiên cứu nhưng không có kết luận cụ thể. Nghiên cứu của Antalovski và Cox (2021) tại thị trưởng Canada trong giai đoạn 2011 – 2018, có kết luận về tác động của 02 chỉ tiêu sinh lời là tỷ lệ lãi ròng trên doanh thu và tỷ lệ lợi nhuận trên tổng đầu tư (EBIT/Tổng tài sản) đến hệ số P/E nhưng chưa có kết luận về tác động của ROE, ROA đến hệ số P/E. Tác động của Tỷ lệ chi trả cổ tức (Payout ratio) đối với hệ số P/E nói riêng và giá trị công ty nói chung còn là một vấn đề chưa thống nhất cả về cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm.

Công thức của Beaver và Morse (1978) và công thức về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng với tỷ lệ lợi nhuận giữ lại và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho những lập luận khác nhau về mối quan hệ giữa tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt và hệ số P/E. Các lý thuyết, nghiên cứu của Miller và Modigliani (1961), Walter (1963), Jensen và Meckling (1976), Jensen (1986) cũng chưa có sự thống nhất về mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và giá trị của công ty. Dưới góc độ thực nghiệm, các nghiên cứu của Damoradan (2016), Krishnan và Chen (2020), Afza và Tahir (2012), Freihat (2019) cũng cho các kết quả trái ngược nhau. Tác động của giá trị sổ sách đến giá trị nội tại của cổ phiếu được thể hiện qua mô hình định giá thu nhập thặng dư (Residual Income Valuation Model – RIV) và hướng tiếp cận cận định giá theo tài sản (Asset Approach).

Tuy nhiên, tác động của giá trị sổ sách của cổ phiếu đến hệ số P/E còn chưa được kiểm chứng qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số P/E và ứng dụng trong định giá chứng khoán Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến hệ số P/E, một chỉ số quan trọng trong việc định giá cổ phiếu. Tác giả phân tích các yếu tố như tình hình kinh tế vĩ mô, lợi nhuận doanh nghiệp và tâm lý thị trường, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách thức mà những yếu tố này ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu. Bài viết không chỉ mang lại kiến thức lý thuyết mà còn ứng dụng thực tiễn, giúp nhà đầu tư có cái nhìn toàn diện hơn khi ra quyết định đầu tư.

Để mở rộng thêm kiến thức về định giá doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kế toán so sánh phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền với các phương pháp định giá khác đang áp dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi so sánh các phương pháp định giá khác nhau. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán và chỉ số ngành tại Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến giá chứng khoán. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của thông tin chênh lệch tỷ giá hối đoái trong báo cáo tài chính đến giá cổ phiếu của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để nắm bắt thêm về tác động của thông tin tài chính đến giá cổ phiếu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam.