CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU Giới thiệu khái quát về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, ý nghĩa của nghiên cứu cũng như trình bày tổng quan về phương pháp thực hiện đề tài. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan về bệnh tăng huyết áp, bao gồm các khái niệm và phân loại tăng huyết áp, nguyên nhân, biến chứng và cách điều trị tăng huyết áp. Chương 2 cũng trình bày về các lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa ý định và hành vi để làm cơ sở cho nghiên cứu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu có liên quan cũng được lược khảo trong chương này để làm cơ sở xây dựng khung phân tích cho đề tài.
Dựa trên những kết quả trên, đề tài tiến hành xây dựng khung phân tích và giả thuyết nghiên cứu của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này chủ yếu xoay quanh các vấn đề như quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, xác định thang đo, phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu, phương pháp ước lượng và các kiểm định được sử dụng trong đề tài. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 4 tập trung vào phân tích kết quả ước lượng được từ mô hình nghiên cứu để xác định các yếu tố của ý định phòng ngừa ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa tăng huyết áp. Bên cạnh đó, chương này cũng sẽ trình bày tổng quan về thực trạng bệnh tăng huyết áp.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Chương 5 sẽ tập trung trình bày tóm tắt lại kết quả đạt được của nghiên cứu; dựa trên kết quả này, đề xuất một số khuyến nghị, hàm ý chính sách có tác động tích cực đến ý định và hành vi phòng ngừa tăng huyết áp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan về bệnh tăng huyết áp, các lý thuyết thể hiện mối quan hệ giữa ý định và hành vi để làm cơ sở tiến hành nghiên cứu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu có liên quan cũng được lược khảo để làm cơ sở xây dựng khung phân tích cho đề tài. TỔNG QUAN VỀ TĂNG HUYẾT ÁP 2.
Khái niệm tăng huyết áp Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tăng huyết áp hay còn gọi là “cao huyết áp” hay “tăng xông” là một trạng thái trong đó máu lưu thông dưới một áp suất tăng cao lâu dài. Máu được mang từ tim đến tất cả các bộ phận của cơ thể qua các động mạch và tĩnh mạch. Mỗi lần tim đập, tim sẽ bơm máu đi khắp cơ thể và huyết áp được tạo ra bằng lực của máu tác động lên thành trong của mạch máu khi máu được tim bơm đi khắp cơ thể. Huyết áp được đo bằng mi-li-mét thủy ngân (mm Hg).
Huyết áp được xác định bằng hai chỉ số, thường được viết dưới dạng một tỷ số. Chỉ số thứ nhất (hay chỉ số trên) là huyết áp tâm thu - là mức huyết áp cao nhất trong mạch máu, xảy ra khi tim co bóp. Chỉ số thứ hai (hay chỉ số dưới) là huyết áp tâm trương - là mức huyết áp thấp nhất trong mạch máu và xảy ra giữa các lần tim co bóp, khi cơ tim được thả lỏng. Huyết áp ở người trưởng thành bình thường được xác định khi có huyết áp tâm thu là 120 mm Hg và huyết áp tâm trương là 80 mm Hg.
Tuy nhiên, trạng thái có lợi cho tim mạch cũng vẫn được đảm bảo ở mức huyết áp tâm thu thấp hơn (105 mm Hg) và mức huyết áp tâm trương thấp hơn (60 mm Hg). Tăng huyết áp được xác định khi có huyết áp tâm thu từ 140 mm Hg trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mm Hg trở lên. Các mức huyết áp tâm thu và tâm trương bình thường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chức năng hiệu quả của các cơ quan sinh tồn như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tim, não và thận, cũng như đối với sức khỏe nói chung và trạng thái khỏe mạnh của con người. Theo Basile và Bloch (2017), định nghĩa tăng huyết áp được đưa ra vào năm 2017 bởi Hội Tim mạch Hoa Kỳ/ Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (ACC/AHA) và dựa trên kết quả trung bình của ít nhất 2 lần đo chính xác huyết áp tại ít nhất 2 lần đi khám sau khi được tầm soát ban đầu như sau: - Huyết áp bình thường: tâm thu <120 mmHg và tâm trương <80 mmHg.
- Huyết áp cao: tâm thu 120-129 mmHg và tâm trương < 80 mmHg. - Tăng huyết áp: + Giai đoạn 1: tâm thu 130 - 139 mmHg hoặc tâm trương 80 - 89 mmHg. + Giai đoạn 2: tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc tâm trương ≥ 90 mmHg. Bên cạnh đó, một người được coi là tăng huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) đơn độc khi chỉ số huyết áp là ≥130/<80 mmHg và tăng huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) đơn độc khi chỉ số huyết áp là <130/≥ 80 mmHg.
Trường hợp bệnh nhân có huyết áp ≥130/≥80 mmHg được coi là có tăng huyết áp cả tâm thu và tâm trương. Phân loại tăng huyết áp Theo Basile và Bloch (2017), chẩn đoán tăng huyết áp bằng cách áp dụng theo dõi huyết áp lưu động (ambulatory blood pressure monitoring - ABPM) hoặc theo dõi huyết áp tại nhà ngày càng phổ biến. Theo Hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ/ Hiệp hội Tim Hoa Kỳ (ACC/AHA) năm 2017, theo dõi huyết áp lưu động (ABPM) sẽ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp nếu đáp ứng được ít nhất một trong số các tiêu sau: - Huyết áp trung bình 24 giờ ≥ 125/75 mmHg. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Huyết áp trung bình vào ban ngày (khi tỉnh táo) ≥ 130/80 mmHg.
- Huyết áp trung bình vào ban đêm (khi ngủ) ≥ 110/65 mmHg. Số đo huyết áp tại nhà nhiều lần đạt trung bình ≥ 130/80 mmHg sẽ được xem là tăng huyết áp. Tăng huyết áp áo choàng trắng (white coat hypertension) là giá trị huyết áp cao được đo tại cơ sở y tế nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp khi đo ngoài cơ sở y tế. Tăng huyết áp ẩn là giá trị huyết áp cao được đo ngoài cơ sở y tế nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp khi đo tại cơ sở y tế.
Bệnh võng mạc do tăng huyết áp mức độ vừa và nặng (trước đây gọi là “tăng huyết áp ác tính”) tương ứng bệnh võng mạc tăng huyết áp giai đoạn III và IV là những thay đổi sinh lý bệnh cụ thể có thể liên quan đến tăng huyết áp nặng, bao gồm xuất huyết võng mạc, quáng gà hoặc phù gai thị. Những tổn thương này có thể liên quan đến bệnh não do tăng huyết áp và xơ hóa thận cấp tính do tăng huyết áp (trước đây gọi là "xơ hóa thận ác tính"). Tăng huyết áp ác tính thường liên quan đến huyết áp tâm trương trên 120 mmHg. Tuy nhiên, nó có thể xảy ra khi huyết áp tâm trương dưới 100 mmHg ở những bệnh nhân có huyết áp bình thường trước đó nhưng mắc tăng huyết áp cấp tính do tiền sản giật hoặc viêm cầu thận cấp.
Tăng huyết áp cấp cứu là tình trạng tăng huyết áp nặng (thường là huyết áp tâm trương trên 110 mmHg) có kèm theo tổn thương cấp tính cơ quan đích, có thể đe doạ đến tính mạng và cần được điều trị ngay lập tức. Tăng huyết áp khẩn cấp là tình trạng tăng huyết áp nặng (thường là huyết áp tâm trương trên 110 mmHg) ở bệnh nhân không có triệu chứng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nguyên nhân và biến chứng của tăng huyết áp Tăng huyết áp nguyên phát Mặc dù nguyên nhân chính xác của tăng huyết áp nguyên phát vẫn chưa rõ ràng nhưng có một số yếu tố nguy cơ có liên quan mạnh mẽ và độc lập với sự phát triển tăng huyết áp nguyên phát, bao gồm: Tuổi; Béo phì và tăng cân; Tiền sử gia đình; Chủng tộc; Số lượng ống thận giảm; Chế độ ăn nhiều muối; Uống nhiều rượu; Ít hoạt động thể chất; Bệnh đái tháo đường và rối loạn lipid máu; Đặc điểm tính cách và trầm cảm Tăng huyết áp thứ phát Một số bệnh có thể làm tăng huyết áp và dẫn đến bệnh tăng huyết áp thứ phát.
Trong nhiều trường hợp, các nguyên nhân này có thể cùng tồn tại với các yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp nguyên phát (trước đây gọi là tăng huyết áp “vô căn”) và là rào cản đáng kể để đạt được kiểm soát huyết áp thỏa đáng. Các nguyên nhân chính của tăng huyết áp thứ phát bao gồm: Do các loại thuốc kê đơn hoặc không cần kê đơn (thuốc tránh thai đường uống, thuốc chống trầm cảm, thuốc giảm cân…); Sử dụng ma túy; Bệnh thận nguyên phát; Cường aldosteron nguyên phát; Bệnh lý mạch thận; Ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn; U tủy thượng thận; Hội chứng Cushing; Các rối loạn nội tiết; Hẹp động mạch chủ. Biến chứng của tăng huyết áp Tăng huyết áp liên quan đến rất nhiều bệnh lý nguy hiểm và khả năng xuất hiện các biến chứng càng tăng khi huyết áp càng cao. Sự gia tăng nguy cơ bắt đầu xuất hiện khi huyết áp tăng trên 115/75 mmHg ở mọi lứa tuổi.
Bên cạnh đó, tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ lớn hình thành các bệnh lý tim mạch và thường gặp hơn cả hút thuốc lá, rối loạn lipid máu hoặc đái tháo đường (là các yếu tố nguy cơ chính khác). Các biến chứng sau đây liên quan chặt chẽ tới tình trạng tăng huyết áp: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Phì đại thất trái là dấu hiệu sớm và phổ biến ở bệnh nhân tăng huyết áp; làm tăng nguy cơ suy tim, nhồi máu cơ tim, đột tử và đột quỵ. - Nguy cơ suy tim bao gồm cả suy tim tâm thu và suy tim tâm trương tăng lên theo mức độ tăng huyết áp. - Là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất và phổ biến nhất của đột quỵ thiếu máu não hoặc chảy máu não.
- Là yếu tố nguy cơ hàng đầu của bệnh tim thiếu máu cục bộ, bao gồm nhồi máu cơ tim và can thiệp mạch vành. - Là yếu tố nguy cơ của bệnh thận mạn tính và bệnh thận giai đoạn cuối; có thể trực tiếp gây ra bệnh thận gọi là xơ hóa thận do tăng huyết áp (hypertensive nephrosclerosis) và đẩy nhanh tiến triển của hàng loạt bệnh thận khác. Các yếu tố chính góp phần gây tăng huyết áp và hậu quả của tăng huyết áp được minh họa qua hình 2.