Đặt vấn đề Mục đích của hoạt động kinh doanh là mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đây cũng là một chỉ số quan trọng được ghi nhận trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư thường dựa vào lợi nhuận để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh và triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp để quyết định đầu tư. Xuất phát từ một số nhóm nguyên nhân như chế độ trả công dành cho nhà quản trị theo mức lợi nhuận nào đó, tránh vi phạm hợp đồng đi vay, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hay làm tăng thị giá của công ty, các công ty có xu hướng điều chỉnh tang, giảm mức lợi nhuận trên báo cáo tài chính. Trong bối cảnh sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản trị và nhà đầu tư, hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ gây ra các nguy cơ về rủi ro phá sản cho bản thân doanh nghiệp và làm sai lệch các quyết định của các nhà đầu tư.2 Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường chứng khoán cũng đã và đang ngày càng phát triền.
Một trong những yếu tố quan trọng để thu hút nhà đầu tư vào công ty là đó chính là chỉ tiêu lợi nhuận. Chỉ tiêu lợi nhuận là yếu tố quan trọng phản ánh tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của của công ty. Đó cũng chính là lý do khiến quản trị công ty luôn tìm cách để thay đổi và thổi phồng lợi nhuận nhằm thu hút nhà đầu tư. Đặc biệt là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán cần tạo sức hấp dẫn với nhà đầu tư thông qua chỉ tiêu lợi nhuận.
Việc điều chỉnh lợi nhuận (Earnings management) trong kế toán là hành vi các nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng các ước tính trong kế toán và lựa chọn chính sách kế toán để điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn của mình và nó sẽ làm sai lệch tình hình tài chính thực tế của doanh nghiệp và dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với nhà đầu tư, bị đánh lừa về hiệu quả kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và có thể bị chịu thiệt hại nặng nề về quyết định đầu tư của mình liên quan đến thông tin sai lệch được cung cấp bởi doanh nghiệp. Và việc điều chỉnh lợi nhuận sẽ ảnh hưởng 2 không nhỏ đến sự minh bạch và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán. Tại Việt Nam, trong thời gian vừa qua đã phát hiện một số, công ty, tập đoàn kinh tế niêm yết vì danh tiếng, vì lo sợ gây hoang mang và dẫn đến sự tháo chạy của các nhà đầu tư các công ty, các tập đoàn kinh tế này đã thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận từ lỗ thành lãi nhằm che dấu thông tin tài chính thực tế của mình như: - Trường hợp Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết đã có hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính năm 2006 và 2007 từ lỗ thành lãi nhằm che dấu thông tin lỗ đến các nhà đầu tư. Cụ thể theo báo cáo kiểm toán năm 2007, Bông Bạch Tuyết bị lỗ 8,48 tỉ đồng trong năm 2006, lỗ 6,8 tỉ đồng trong năm 2007.
Trong khi đó, theo báo cáo kiểm toán năm 2006 đã được công bố thì công ty này đạt lợi nhuận ròng 2,25 tỉ đồng trong năm 2006. Kết quả thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sau đó đã bóc tách hàng loạt sai phạm tại Bông Bạch Tuyết như thực chất Công ty lỗ liên tục từ khi bắt đầu niêm yết vào năm 2004, các BCTC công bố có lãi nhưng bị ngoại trừ nhiều điểm trọng yếu như không hạch toán chi phí quảng cáo sản phẩm mới, không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, thay đổi chính sách khấu hao. Hậu quả của việc này là công ty Bông Bạch Tuyết là công ty đầu tiên bị hủy niêm yết bắt buộc và gây thiệt hại lớn cho hơn 3. - Trường hợp công ty cổ phần Bánh kẹo Biên Hoà (BIBICA) đã “phép lợi” nhuận để trên báo cáo tài chính năm 2002 từ lỗ nhiều thành lỗ ít.
Ngày 23/05/2003, BIBICA đã công bố BCTC năm 2002 (đã kiểm toán) cho thấy, cả năm 2002 BIBICA lỗ 5,4 tỷ đồng, trong khi BCTC ba quý đầu năm rất khả quan, lãi 4,1 tỷ đồng, đồng thời kèm theo văn bản giải trình là do gánh nặng chi phí dồn vào cuối năm. Tuy nhiên theo báo cáo độc lập của ban kiểm soát công bố số lỗ thực tế của công ty BIBICA là 12,7 tỷ. - Trường hợp của Công ty cổ phần dược phẩm Viễn Đông (DVD). Hai năm trước khi niêm yết, Dược Viễn Đông chỉ đạt lợi nhuận lần lượt 18,5 tỷ đồng và 25,5 tỷ đồng, nhưng vào năm 2009, khi vừa niêm yết, lợi nhuận bất ngờ nhảy vọt lên 109 tỷ đồng.
Lợi nhuận của Dược Viễn Đông xuất phát từ hoạt 3 động sản xuất-kinh doanh chính, chứ không phải từ các thu nhập bất thường như thanh lý tài sản, chuyển nhượng vốn. Dược Viễn Đông đã gian lận báo cáo tài chính với chiêu thức thực hiện các giao dịch đáng ngờ với hệ thống các công ty liên quan bên ngoài được lập ra bởi chính các thành viên Ban lãnh đạo Dược Viễn Đông. Việc ghi nhận doanh thu của Dược Viễn Đông theo chứng từ, hóa đơn với nhóm công ty này có thể thực hiện dễ dàng, đủ điều kiện để ghi nhận doanh thu, lợi nhuận, qua mặt cả công ty kiểm toán dù trong thực tế không phát sinh hoạt động bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ. Đồng thời để tạo giá trị ảo cho cổ phiếu Dược Viễn Đông nhằm thu hút nhà đầu tư., Dược Viễn Đông đã thâu tóm, sáp nhập một số công ty dược phẩm vào Dược Viễn Đông, trong số này có Dược phẩm Hà Tây để thực hiện nhiều lần mua đi bán lại cổ phiếu Dược Hà Tây với khối lượng lớn, chiếm tỷ trọng cao so với khối lượng giao dịch toàn thị trường mua (mua hơn 6,5 triệu cổ phiếu Dược Hà Tây chiếm 64,2% khối lượng giao dịch Dược Hà Tây toàn thị trường).
Theo kết quả thanh tra của Ủy ban Chứng khoán nhà nước, trong 106 phiên giao dịch có 36 phiên với 160 lần khớp chéo giữa các tài khoản trong nhóm mua với tổng số tiền là hơn 186 tỷ đồng để thanh toán mua cổ phiếu Dược Hà Tây để tạo ra cung cầu giả tạo với loại cổ phiếu Dược Viễn Đông, Dược Hà Tây trên thị trường. Hiệu quả của hành vi này là Công ty cổ phần Dược Viễn Đông bị hủy niêm yết và tuyên bố phá sản và theo thống kê, tính đến ngày giao dịch cuối cùng, có 1702 cổ đông đầu tư vào Dược Viễn Đông, hiện có gần 12 triệu cổ phiếu Dược Viễn Đông đang phát hành trên thị trường chứng khoán giá trị là 64,61 tỷ đồng. Vì vậy, việc nhận diện được hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các nhà quản trị thông qua các điều chỉnh lợi nhuận nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt nhà nhà đầu tư có được thông tin chính xác để đưa ra các quyết định đúng đắn và có thể mang lại lợi ích cho nhà đầu tư là một đề có ý nghĩa rất lớn. Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực đó, tôi chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh 4 lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình.3 Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh.
Và giúp các nhà đầu tư có khả năng nhận biết được hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh và từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuân của và nâng cao chất lượng thông tin báo các tài chính của các công ty niêm yết.4 Câu hỏi nghiên cứu - Thực trạng hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào? - Các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh? - Giải pháp nào nhằm hạn chế hành vi điều chỉnh lợi nhuận và nâng cao chất lượng công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh? 1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh thông qua báo cáo tài chính của năm tài chính 2015. - Về mặt không gian: Mẫu lựa chọn là 94 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh 5 - Về mặt Thời gian: Báo cáo tài chính của 94 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh trong năm 2015.6 Tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Các công trình nghiên cứu trong quốc tế Nghiên cứu “Analysis of factors affecting on the earnings management (Empirical study on the manufacturing company go public in Indonesia)” của Fauziah (2016) tạm dịch là "Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc hành vi điều chỉnh lợi nhuận (nghiên cứu thực nghiệm về các công ty sản xuất công khai tại Indonesia)" đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Jones (1991) đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận là quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, thời gian hoạt động trên thị trường chứng khoán, giá của các cổ phiếu chào bán, uy tín của kiểm soát viên và số lương của ban giám đốc. Bài nghiên cứu sử dụng 35 mẫu quan sát được lấy từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán chứng Indonesia trong giai đoạn từ năm 2000-2015 để tiến hành khảo sát và nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sáu biến trên không ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Indonesia.