Chương 1 nêu lên lý do chọn đề tài, sự cần thiết xác định các yếu tố cấu thành nên các giá trị thương hiệu nước mắm Phú Quốc. Chương 2 trình bày các lý thuyết và những nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến lĩnh vực thương hiệu và giá trị thương hiệu, và đưa ra các thành phần của mô hình giá trị thương hiệu. chương 2 gồm bốn phần chính: - Thương hiệu và sản phẩm - Giá trị thương hiệu - Các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến giá trị thương hiệu - Mô hình nghiên cứu - Tóm tắt 2. Thương hiệu và sản phẩm Thương hiệu –theo định nghĩa của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu ( hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một số sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Theo hiệp hội Marketing Hoa kỳ, thương hiệu là “ một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế…hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán hoặc nhóm người bán với hàng hóa và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”. Với quan điểm này, thương hiệu được hiểu như là một thành phần của sản phẩm và chức năng chính của thương hiệu là để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh. Theo Ampler& Styles (1996) định nghĩa “ Thương hiệu là một tập hợp các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu 7 theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng.
Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu. Hai quan điểm về sản phẩm và thương hiệu được minh họa ở hình 2. Mô hình mối quan hệ giữa thương hiệu & sản phẩm SẢN PHẨM THƯƠNG HIỆU THƯƠNG HIỆU SẢN PHẨM Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002) Quan điểm sản phẩm là một thành phần của thương hiệu, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là người tiêu dùng có hai nhu cầu: nhu cầu về mặt chức năng và nhu cầu về mặt tâm lý.
Sản phẩm chỉ cung cấp cho người tiêu dùng về mặt chức năng, và thương hiệu mới cung cấp cho người tiêu dùng cả hai. Sản phẩm có thể nhanh chóng bị lạc hậu, nhưng thương hiệu, nếu thành công sẽ không bao giờ bị lạc hậu ( Aaker, 1991). Chính vì thế mà ngày nay dù hoạt động trong bất kể lĩnh vực nào, thì các nhà quản trị luôn hướng đến tạo giá trị thương hiệu cho sản phẩm của mình. Giá trị thương hiệu (brand equity) Cuộc cạnh tranh trong thương trường là cuộc cạnh tranh giữa các thương hiệu.
Ngày nay càng có nhiều công ty nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu trong quá trình hình thành và phát triển công ty. Vì vậy, vấn đề xây dựng các giá trị thương hiệu càng trở nên cấp thiết. Giá trị thương hiệu (brand equity) là khái niệm định tính: thể hiện ở mức độ nhận biết, sự cảm nhận, sự liên tưởng, độ trung thành của khách hàng. Giá trị 8 thương hiệu là hiệu quả khác biệt mà tri thức thương hiệu (brand knowledge) tạo ra được sự đáp ứng của khách hàng đối với các chương trình marketing dành cho thương hiệu ấy, và tri thức thương hiệu trong tâm trí khách hàng là trung tâm, là cốt lõi của việc tạo ra giá trị thương hiệu (Kevin lane Keller, strategic Brand management, building, measuring, and managing brand equity, 1998) Giá trị thương hiệu là một khái niệm đã có nhiều tranh luận và nghiên cứu khác nhau trong quá trình đi đến một định nghĩa thống nhất.
Hiện nay việc đánh giá giá trị thương hiệu được chia thành hai nhóm chính: giá trị thương hiệu đánh giá theo quan điểm định lượng, là tổng thu nhập tài chánh mà thương hiệu mang lại cho doanh nghiệp (brand value) và đánh giá theo quan điểm người tiêu dùng (customer based brand equity) Đánh giá thương hiệu theo quan điểm tài chánh đóng góp vào việc đánh giá tài sản của một công ty, tuy nhiên, nó không giúp nhiều cho nhà quản trị trong việc tận dụng và phát triển giá trị thương hiệu. Hơn nữa về mặt tiếp thị, giá trị tài chánh của một thương hiệu là kết quả đánh giá của người tiêu dùng về giá trị của thương hiệu đó. Do đó nghiên cứu này tập trung vào quan điểm đánh giá giá trị thương hiệu dựa vào người tiêu dùng (customer based brand equity). Các lý thuyết và nghiên cứu liên quan về giá trị thương hiệu 2.
Giá trị thương hiệu theo quan điểm của David A. Aaker Theo David A. Aaker (1991) giá trị thương hiệu bao gồm các yếu tố sau cấu thành: (1) lòng trung thành thương hiệu (brand loyalty) thể hiện ở việc khách hàng mua lặp lại và tăng về số lượng, (2) nhận biết thương hiệu ( brand awareness) là khả năng khách hàng nhận biết và nhớ lại thương hiệu, (3) chất lượng cảm nhận (perceived quality) là nhận thức tổng thể của khách hàng về chất lượng và giá trị của thương hiệu, (4) liên tưởng thương hiệu (brand association) là những ý tưởng kết nối vào trí nhớ của khách hàng khi nhắc đến thương hiệu thông qua những quan điểm khác biệt hóa, qua tính cách, văn hóa và tầng lớp khách hàng của thương hiệu, tập hợp các liên tưởng chính là hình ảnh thương hiệu, (5) tài sản khác ( other 9 proprietary brand assets) như là bảo hộ thương hiệu, quan hệ với kênh phân phối, bằng phát minh sáng chế,. Theo Aaker (1991), giá trị thương hiệu tạo ra giá trị cho khách hàng và doanh nghiệp, giá trị được tạo ra cho khách hàng sẽ làm gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Lý thuyết giá trị thương hiệu của Aaker được xem là cung cấp nền tảng hữu ích cho quá trình quản lý và phát triển doanh nghiệp. Mô hình giá trị thương hiệu của Aaker gồm 5 thành phần: Lòng trung thành thương hiệu (Brand Loyalty) Nhận biết thương hiệu (Brand Awareness) Chất lượng cảm nhận (Perceived Quality) GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU (BRAND EQUITY) Liên tưởng thương hiệu (Brand Associations Những tài sản khác (Other Proprietary Brand Assets) Nguồn: David A.Aaker (1991), Managing Brand Equity, Capitalizing on the value of a Brand Name 2. Giá trị thương hiệu theo quan điểm của Kevin Lane Keller Keller (1998) cho rằng giá trị thương hiệu chính là tri thức của khách hàng (brand knowledge) về thương hiệu đó. Tri thức khách hàng bao gồm hai thành phần 10 chính: nhận biết thương hiệu (brand awareness) và hình ảnh thương hiệu (brand image).
Mô hình giá trị thương hiệu của Keller là tập hợp những nhận thức của người tiêu dùng về thương hiệu, mô hình giá trị thương hiệu của Keller (2003) cho thấy sức mạnh của thương hiệu nằm ở những gì khách hàng biết, khách hàng nhớ, cảm giác, nhìn thấy và nghe thấy về thương hiệu. Mô hình giá trị thương hiệu của Keller Br.recognition (nhận biết thương hiệu) Non-product Price (giá) related (thuộc tính không gắng liền với Br.knowledge (Tri Type of Attributes (thuộc sản phẩm) thức về thương Br.associations (Sức mạnh của các liên tưởng) Functional (lợi Br.associations (sức mạnh thương hiệu) Feelings & Experiential (lợi experiences (cảm ích trải nghiệm) nhận & trải nghiệm) Uniqueness of Br. Giá trị thương hiệu theo quan điểm của Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002) Trong đề tài nghiên cứu khoa học “Các thành phần giá trị thương hiệu và đo lường chúng trong thị trường hàng tiêu dùng tại Việt Nam”, trường đại học kinh tế TP.HCM, tháng 12 năm 2002. Trong nghiên cứu này tác giả khám phá các thành phần của giá trị thương hiệu, xây dựng và đánh giá các thang đo cũng như xây dựng một mô hình lý thuyết biểu diễn mối quan hệ giữa các thành phần giá trị thương hiệu và thái độ của người tiêu dùng đối với các chương trình quảng cáo và khuyến mãi của thương hiệu.
Kết quả kiểm định của mô hình này có bốn yếu tố cấu thành nên giá trị thương hiệu có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Trong đó lòng trung thành của người tiêu dùng đối với thương hiệu được tạo thành từ lòng ham muốn và chất lượng cảm nhận thương hiệu. Chất lượng cảm nhận được của người tiêu dùng vừa là yếu tố nguyên nhân của lòng trung thành thương hiệu, vừa là nguyên nhân của lòng ham muốn thương hiệu. Như vậy chất lượng cảm nhận của người tiêu dùng về thương hiệu đóng vai trò then chốt tạo nên giá trị thương hiệu và chất lượng cảm nhận ở đây là chất lượng cảm nhận được của người tiêu dùng chứ không phải là chất lượng của sản phẩm.
Kết quả của mô hình này là cơ sở cho các nhà quản trị hoạch định những chiến lược thương hiệu hiệu quả hơn đối với thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam. Nghiên cứu của Nguyễn Phượng Hoàng Lam (2009) Trong luận văn thạc sỹ của Nguyễn Phượng Hoàng Lam (2009) “ Đo lường giá trị thương hiệu dịch vụ giáo dục tiểu học ngoài công lập tại thành phố Hồ Chí Minh”, Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy để nâng cao giá trị thương hiệu trong lĩnh vực này cần tập trung nâng cao các thành phần cấu thành nên giá trị thương hiệu: (1) nhận biết thương hiệu, (2) ấn tượng thương hiệu, (3) chất lượng cảm nhận , (4) lòng trung thành thương hiệu. Từ kết quả phân tích phương trình hồi quy tuyến tính cho thấy mối tương quan giữa nhận biết thương hiệu và ấn tượng thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu là tương quan tuyến tính thuận. 12 Như vậy khi tăng giá trị của một nhân tố nào trong ba nhân tố này đều làm tăng giá trị của nhân tố lòng trung thành thương hiệu.
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Thanh (2009) Trong luận văn thạc sỹ của Nguyễn Việt Thanh (2009) “ Nghiên cứu các thành phần giá trị thương hiệu bia Sài Gòn”, nghiên cứu sử dụng lại mô hình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2002), áp dụng cho mô hình nghiên cứu của tác giả, kết quả cho thấy chất lượng cảm nhận tác động mạnh vào lòng đam mê thương hiệu, quảng cáo tác động mạnh vào chất lượng cảm nhận, quảng cáo tác động mạnh vào nhận biết thương hiệu, nhận biết thương hiệu tác động vào chất lượng cảm nhận, nhận biết thương hiệu tác động vào lòng đam mê thương hiệu.