Phần mở đầu, nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về động viên và mô hình nghiên cứu, trình bày các khái niệm cơ bản, các lý thuyết nền tảng về thỏa mãn nhu cầu cá nhân, và tóm tắt một số nghiên cứu đã thực hiện về xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến động viên nhân viên. Từ đó, đề xuất mô hình và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trình bày cách thức thiết kế một nghiên cứu, bao gồm xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi, cách thức chọn mẫu cùng với các kỹ thuật phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trình bày các kết quả thống kê và các kết quả về đánh giá hệ số tin cậy Cronbach alpha, phân tích nhân tố EFA, kiểm định sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị, trình bày kết luận và một số kiến nghị để nâng cao mức độ động viên nhân viên văn phòng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời nêu lên những đóng góp và hạn chế của đề tài cùng với hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG VIÊN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trước hết trình bày các khái niệm cơ bản, các đặc trưng doanh nghiệp nhỏ và vừa, và các lý thuyết nền tảng về thỏa mãn nhu cầu cá nhân theo các học thuyết kinh điển. Sau đó, tóm tắt một số nghiên cứu thực tiễn ở nước ngoài và tại Việt Nam về xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến động viên nhân viên.
Từ đó, đề xuất hai mô hình và các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến động viên nhân viên văn phòng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.1 Khái niệm về nhân viên văn phòng Theo từ điển Oxford American, nhân viên văn phòng là người làm việc trong văn phòng hay thông thường trong một môi trường chuyên nghiệp. Họ là lao động có trình độ và có các đặc điểm: là người có thể phân tích, tổng hợp, đánh giá, và sử dụng thông tin để giải quyết các vấn đề trong một môi trường thay đổi (Brown, 1999). Trong các doanh nghiệp, dù hoạt động ở quy mô hay lĩnh vực nào cũng đều tổ chức bộ phận văn phòng để thực hiện các công việc văn phòng với vai trò chủ yếu là trung tâm tiếp nhận, truyền đạt thông tin, phối hợp các qui trình hoạt động của công ty; là trung tâm hoạch định và kiểm soát các hoạt động đảm bảo thường nhật và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các phòng, ban chức năng trong các hoạt động hoặc dự án chuyên biệt… (http://www.vn, ngày truy cập: 26/05/2013). Để đảm nhiệm các vai trò này, nhân viên văn phòng phải thực hiện các chức năng là (1) chức năng giúp việc và (2) chức năng tham mưu (http://vpid.vn, ngày truy cập: 26/05/2013).
(1) Chức năng giúp việc: Với chức năng giúp việc, nhân viên văn phòng sẽ thực hiện các công việc do lãnh đạo công ty giao cho một cách trực tiếp hoặc các công việc đã được lãnh đạo trù liệu từ trước. Phần lớn các công việc thuộc nhóm này thường lặp đi lặp lại và lãnh đạo công ty có khả năng tự giải quyết nếu họ có đủ quỹ thời gian. Hoàn thành chức năng giúp việc về cơ bản có thể nói nhân viên văn phòng đã hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong một môi trường kinh doanh luôn thay đổi, đòi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hỏi nhân viên văn phòng không chỉ làm tốt chức năng giúp việc mà còn phải đáp ứng được chức năng tham mưu.
(2) Chức năng tham mưu: Là một chức năng rất khó xác định số lượng công việc nhưng lại hết sức quan trọng với mọi doanh nghiệp. Các công việc thuộc nhóm này là những việc mà nhân viên văn phòng phải tự nghĩ ra, tự đề xuất với lãnh đạo chứ không phải thụ động chờ sự chỉ đạo từ trên xuống. Để hoàn thành được chức năng này, các nhân viên văn phòng cần phải chủ động, có khả năng quan sát tốt và giàu ý tưởng. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn các nhân viên văn phòng chỉ thực hiện chức năng giúp việc.
Trong một nghiên cứu của Panagiotakopoulos (2013) thực hiện trên các doanh nghiệp nhỏ ở Hy Lạp thì hầu hết các đối tượng khảo sát đều cho rằng công việc của họ thường đơn điệu. Theo nhận định của Saville & Holdsworth - một công ty tư vấn nguồn nhân lực ở Boston thì đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhân viên cảm thấy không hài lòng, thậm chí thờ ơ với công việc hiện tại, vì họ không có cơ hội để cống hiến hết sức mình cho công việc. Để giải quyết thực trạng này, các nhà quản lý đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để động viên, khích lệ nhân viên. Cách thông dụng nhất là mở rộng công việc, tạo ra nhiều cơ hội thách thức và thú vị hơn để nhân viên được tham gia, làm cho họ thích thú với công việc, từ đó làm giảm khả năng “nhảy việc” của nhân viên (http://www.vn, ngày truy cập: 26/05/2013).2 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2.1 Khái niệm Theo Wikepedia, doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại căn cứ vào quy mô là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, và doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động (http://vi.org, ngày truy cập: 26/05/2013). Ở mỗi nước khác nhau, tiêu chí để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng khác nhau. Tại Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, quy định số lượng lao động trung bình và số vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa như trong bảng 2.1: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực vốn vốn I.
Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy xuống xuống người đến 200 đồng đến 100 người đến 300 sản người tỷ đồng người II. Công 10 người trở 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xây xuống xuống người đến 200 đồng đến 100 người đến 300 dựng người tỷ đồng người III. Thương 10 người trở 10 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch vụ xuống xuống người đến 50 đồng đến 50 tỷ người đến 100 người đồng người Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tính đến hết năm 2011, cả nước có 543.963 doanh nghiệp hoạt động, trong đó có gần 97% doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp này sử dụng 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 49% GDP cả nước.
Đây là những đóng góp tích cực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa cho nền kinh tế (http://www.vn, ngày truy cập: 26/05/2013). Trong những năm gần đây, với tình hình kinh tế khó khăn, các doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp quy mô. Động thái này đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam “khó lớn”. Dựa trên số liệu chính thức về doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê công bố, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã nhận định: “Chỉ trong vòng một năm, 2010-2011, đã có tới 40% doanh nghiệp quy mô vừa thu hẹp quy mô lao động.
Số lượng doanh nghiệp thu hẹp vốn ít hơn, chỉ khoảng gần 7%, song lại là những doanh nghiệp lớn lui về làm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nếu xét giai đoạn 2002-2011, tỷ trọng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ của Việt Nam phân theo quy mô lao động đã tăng từ 90 lên 95,6%, trong đó có tới 2/3 doanh nghiệp siêu nhỏ với số lao động dưới mười người. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Ngược lại, số doanh nghiệp vừa và lớn vào năm 2011 chỉ còn 2,1 so với 2,4% trong năm 2002” (http://dddn.vn, ngày truy cập: 26/05/2013). Như vậy, với số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng gia tăng đã đặt ra cho các bộ, ngành và địa phương cần phải có những giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững.
Từ những tháng đầu năm 2013, Nhà nước cũng ban hành các gói hỗ trợ về tài chính như giảm và gia hạn tiền thuế, hỗ trợ lãi suất tín dụng, … Cùng với đó, các chương trình, hội thảo liên tục được tổ chức nhằm đưa ra các giải pháp tổng thể về vốn và nhân lực để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua giai đoạn khó khăn này. Trong một hội thảo do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 11/05/2013 về “Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong vấn đề lao động”, Đoàn Thị Hồng Vân đã nhấn mạnh: “Để doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng nhanh về chất lượng, phát triển bền vững và hội nhập thì phải xuất phát từ chính bản thân doanh nghiệp, đặc biệt là công tác quản trị nguồn nhân lực”. Như vậy, để tồn tại và phát triển bền vững, đòi hỏi các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt là tăng cường công tác quản trị nhân lực để giảm thiểu tình trạng thuyên chuyển công tác của nhân viên, từ đó góp phần ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.