chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các lý thuyết về vấn đề lựa chọn tiêu dùng và khung lý thuyết chăm sóc sức khoẻ. Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề chi tiêu y tế của hộ gia đình cho trẻ em cũng được đề cập, tổng hợp ở chương này. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI TIÊU DÙNG 2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hoá Cầu hàng hoá là lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng trả những mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định. Cầu hàng hoá hay dịch vụ sẽ thay đổi khi chịu tác động của những yếu tố sau: - Thu nhập là yếu tố ảnh hưởng đến cầu người tiêu dùng. Khi thu nhập gia tăng, họ có thể sẵn lòng tăng chi tiêu cho một loại hàng hoá hay dịch vụ với số lượng nhiều hơn trước. - Sở thích, thị hiếu sẽ làm cho người tiêu dùng ưu tiên cho việc lựa chọn hàng hoá hay dịch vụ trong điều kiện giới hạn đường ngân sách.
Người tiêu dùng thích một loại hàng hoá hay dịch vụ nào đó nhiều, thì sẽ tăng và ưu tiên tiêu dùng hàng hoá hay dịch vụ đó. - Cầu hàng hoá hay dịch vụ không chỉ phụ thuộc vào giá cả của chính bản thân loại hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá hay dịch vụ liên quan. Theo đó thì cầu của một loại hàng hoá hay dịch vụ sẽ tăng khi giá cả hàng hoá thay thế cho chính hàng hoá hay dịch vụ đó tăng. Bên cạnh đó, cầu của một hàng hoá hay dịch vụ sẽ giảm nếu giá cả của hàng hoá hay dịch vụ bổ sung cho nó tăng.
- Qui mô thị trường càng lớn thì cầu của hàng hoá hay dịch vụ càng nhiều. - Những dự đoán giá cả tương lai sẽ ảnh hưởng đến cầu hàng hoá ở thời điểm hiện tại. Cầu hàng hoá hay dịch vụ sẽ tăng nếu như người tiêu dùng dự đoán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 trong tương lai, giá cả của hàng hoá này sẽ tăng. Và ngược lại, cầu hàng hoá sẽ giảm nếu người tiêu dùng dự đoán giá cả hàng hoá hay dịch vụ này trong tương lai sẽ giảm hơn giá cả hiện tại.
Lý thuyết lựa chọn tiêu dùng Theo lý thuyết Mas - Colell (1995) tiêu dùng thể hiện những quyết định lựa chọn tiêu dùng mang tính chất duy lý của người tiêu dùng cho các loại hàng hoá. Trong điều kiện ràng buộc về ngân sách hộ gia đình, người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hoá đảm bảo tối đa hoá mức hữu dụng của mình theo hàm hữu dụng sau.x≤I} Để đạt mức thỏa dụng cao nhất, người tiêu dùng sẽ lựa chọn tiêu dùng các hàng hóa x € B(p,I). Vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng là người chấp nhận giá và giá cả hàng hóa có dạng tuyến tính. LÝ THUYẾT CHĂM SÓC SỨC KHỎE VÀ CHI TIÊU Y TẾ 2.
Lý thuyết về chăm sóc sức khỏe Theo Pauly (1978, 1988) chăm sóc sức khỏe thường được định nghĩa là tập hợp những hàng hóa và dịch vụ có mục đích chính là cải thiện hay phòng ngừa sự đi xuống trong sức khỏe. Một người tiêu dùng có thể đối mặt trong lúc quyết định giữa việc uống một viên thuốc hay một cuộc giải phẫu trong tình trạng thông tin bất cân xứng. Như vậy hàng hóa sự chăm sóc sức khỏe là một loại hàng hóa đặc biệt dưới góc độ phân tích kinh tế. Tuy nhiên quan điểm giữa các nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kinh tế học sức khỏe về mức độ khác biệt giữa hàng hóa đặc biệt này so với hàng hóa bình thường là không giống nhau, từ đó quan điểm về tầm quan trọng của các yếu tố chăm sóc sức khỏe là khác nhau và ngụ ý của chúng đối với vấn đề chính sách và phương pháp phân tích đối với các vấn đề riêng biệt cũng không đồng nhất.
Những quan điểm khác nhau khiến giới nghiên cứu trở nên rất đa dạng, nhóm có quan điểm rộng nhấn mạnh sự khác biệt của dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tin rằng những khác biệt này có những vai trò quan trọng trong hoạt động của thị trường dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khung phân tích với vấn đề này; nhóm có quan điểm hẹp tin rằng dịch vụ chăm sóc sức khỏe không quá khác biệt và thị trường này có thể được phân tích tốt với những mô hình tân cổ điển thông thường. Cầu chăm sóc sức khỏe là một trong rất nhiều những yếu tố tác động lên sức khỏe, và từ góc nhìn kinh tế, nó chỉ đơn thuần là một đầu vào trong sự tạo sức khỏe. Do đó, không như những hàng hóa khác vốn được tiêu dùng vì sự thoả dụng trực tiếp mà chúng mang lại, sự chăm sóc sức khỏe được tiêu dùng để tạo ra sức khỏe, ở đây sức khỏe mới là hàng hóa được mong muốn. Trong thực tế, sự chăm sóc sức khỏe thường là một hàng hóa xấu có hiệu ứng trực tiếp làm giảm thoả dụng.
Phần lớn chúng ta đều thấy vui vẻ nếu không bao giờ phải tiêu dùng chúng. Nhưng khi đau ốm, sự chăm sóc sức khỏe lại trở thành một hàng hóa tốt vì nó có tác động phục hồi sức khỏe, lợi ích này vượt trội những hiệu ứng không mong muốn trong ngắn hạn của việc tiêu dùng dịch vụ này. Vậy cầu đối với sự chăm sóc sức khỏe đến từ cầu của chính sức khỏe (Grossman, 1972), một cầu phái sinh. Theo Arrow (1963) chỉ ra hai dạng quan trọng của tính bất định trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe: tính bất định trong cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tính bất định trong sự hiệu quả của phương án chữa trị.
Vì sự đau ốm và các chấn thương ở mức độ cá nhân là những sự kiện rất ngẫu nhiên, cầu của cá nhân đối với sự chăm sóc sức khỏe và khoản chi trả đi kèm cũng rất ngẫu nhiên. Dù cho những nghiên cứu y tế có thể chỉ ra tính hiệu quả trung bình của một phương án chữa trị trong những điều kiện nhất định, nhưng chúng không thể mô tả liệu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 một phương án chữa trị có thể hiệu quả cho một cá nhân cụ thể trọng một điều kiện cụ thể, có thể nói, trước khi một sự chữa trị diễn ra, luôn có những sự bất định trọng hiệu quả của nó. Về việc tiếp cận và được chăm sóc, theo Legrand (1982) và Mooney (1998) cho rằng có sự khác biệt rạch ròi giữa “tiếp cận” và “được chăm sóc”. “Tiếp cận” bao gồm những cơ hội mà các cá nhân có thể có được, còn “được chăm sóc” hay không phụ thuộc vào cả việc có tồn tại các cơ hội như vậy hay không và việc các cá nhân có khả năng được lợi từ chúng không.
Với suy nghĩ đó, Legrand gắn sự “tiếp cận” với hai yếu tố chi phí: thời gian và tiền bạc. Tuy vậy, điều này ngụ ý một thứ rất khó giải thích: khi hai người cùng đối mặt với chi phí thời gian và tiền bạc như nhau, họ sẽ có cùng mức “tiếp cận” bất chấp sự khác biệt về thu nhập. Theo PAHE (2011), chính sách sức khỏe y tế không chỉ giới hạn trong việc cung cấp và chi trả cho chăm sóc và dịch vụ y tế, ngày nay các yếu tố xã hội được nhìn nhận rộng rãi là có tác động đến sức khỏe. Theo đó, có 14 lĩnh vực chính của các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe bao gồm: Phân phối thu nhập, giáo dục, tỷ lệ thất nghiệp, việc làm và điều kiện làm việc, sự phát triển đầu đời của trẻ, an ninh lương thực, nhà ở, loại trừ xã hội, mạng lưới an sinh xã hội, dịch vụ y tế, dân tộc, giới tính, tình trạng khuyết tật.
Lý thuyết về chi tiêu cho y tế Chi tiêu y tế là việc các cá nhân xã hội chi trả theo khả năng của mình để một số người khác không phải (hoặc giảm mức) chi trả trực tiếp khi nhận được sự chăm sóc. Có một biện luận rằng nguyên tắc này xuất phát từ sự quan tâm đến sự phân phối thu nhập sau khi trừ đi những khoản chi trả cho y tế (Culyer, 1993). Đó là khi những khoản chi trả cho y tế làm ảnh hưởng đến khả năng chi trả sau đó của cá nhân hay hộ gia đình cho những hàng hoá trọng yếu như chi phí nhà cửa hay giáo dục. Giả định rằng việc chi trả cho y tế thường hay xuất phát từ nhóm có thu nhập thấp nhất (những người thu nhập thấp có nguy cơ đau ốm và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cần chăm sóc cao hơn), việc không tách được chi trả ra khỏi sử dụng sẽ khiến nhóm này thiệt hại một phần thu nhập khả dụng đáng kể sau khi phải trả cho dịch vụ y tế.
Trong báo cáo của UNFPA Việt Nam (2011) để lượng hoá cụ thể vấn đề chăm sóc sức khoẻ của người dân đã chia 14 nhóm lĩnh vực chính các yếu tố xã hội quyết định đến sức khoẻ thành 4 nhóm yếu tố liên quan. Cụ thể bao gồm các nhóm về đặc điểm về nhân khẩu học, điều kiện chăm sóc sức khỏe (BHYT, điều kiện sinh hoạt…), và tình trạng nghèo (trợ cấp, hỗ trợ của chính phủ) cũng ảnh hưởng đến sức khỏe. Theo UNFPA Việt Nam (2011), các đặc điểm về trình độ giáo dục của hộ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người dân cũng như trẻ em. Thu nhập của hộ có thể ảnh hưởng đến khả năng chi trả về y tế của hộ gia đình và dẫn đến ảnh hướng đến chi tiêu y tế cho trẻ em.
Trên cơ sở các nghiên cứu trên, tác giả tiếp cận mô hình lý thuyết về chi tiêu y tế gia đình dưới dạng sau: Y= F(A, B, C, D) + U Y: chi tiêu cho y tế hộ cho trẻ em A: Kinh tế hộ gia đình B: Đặc điểm hộ gia đình C: Điều kiện chăm sóc sức khỏe D: Hỗ trợ bên ngoài U: Sai số các tham số ước lượng mô hình. HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CHI TIÊU CỦA HỘ GIA ĐÌNH Hộ gia đình là nhóm tiêu dùng trong nền kinh tế, là tập hợp nhiều cá nhân trong hộ, hành vi ra quyết định nào đó cho một vấn đề chi tiêu cũng chịu sự chi phối phần nào đó từ các cá nhân trong hộ gia đình. Trong nghiên cứu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.