Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số hiệu quả môi trường; Chương 2: Quy trình và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương 4: Hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả môi trường của Việt Nam; CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHỈ SO HIỆU QUA MOI TRUONG CUA CÁC QUOC GIA ĐANG PHÁT TRIEN 1. Cơ sở lý luận về chất lượng môi trường của các quốc gia đang phát triển trên thế giới 1. Khái niệm về hiệu quả môi trường Ngày nay, quản lý môi trường là một phần không thể thiếu trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bảo vệ không gian sống của các thế hệ hiện tại và tương lai đã trở thành một nhiệm vụ bao trùm.
Sự phát triển này đã được đưa vào chính sách doanh nghiệp của nhiều công ty. Theo đó, bảo vệ môi trường không chỉ đơn thuần là tuân thủ các nghĩa vụ ràng buộc hay giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường. Nó trở thành hoạt động của toàn xã hội nói chung và của mỗi cá nhân, doanh nghiệp nói riêng. Hiệu suất môi trường cũng là một mối quan tâm trong phạm vi công cộng, đây là lĩnh vực được đề cập đến nhiều bài nguyên cứu.
Các thuộc tính và đặc điêm của môi trường mang tính tổng quát vì nó tác động trực tiếp đến con người và sinh vật khác bao gồm: các đặc điểm khác nhau như độ tỉnh khiết hoặc ô nhiễm của không khí và nước, tiếng ồn, khả năng tiếp cận không gian mở và hiệu ứng thị giác của các tòa nhà cũng như những tác động tiềm tàng mà các đặc điểm đó có thé gây ra đối với sức khỏe thé chat và tinh than. Saranya (Viện Nghiên cứu và Khoa học Nha khoa KSR), nhiều yếu tố có thé ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi chất lượng môi trường. Hiệu suất môi trường cũng có thé được hiểu là mức độ tác động sinh thái của các hoạt động kinh tế (sản xuất và tiêu dùng) trong một khoảng thời gian nhất định và trong một khu vực kinh tế cụ thé (quốc gia, khu vực hoặc doanh nghiệp), đặc trưng của nó như một biến số dong chảy. Đồng thời, hiệu suất môi trường cũng là một thước đo nhằm đánh giá khách quan tác động của các chính sách của tố chức đối với môi trường.
Đo lường hiệu quả môi trường Một trong những chỉ số tổng hợp về tính bền vững được biết đến nhiều nhất là Chỉ số Hiệu suất Môi trường (EPI) của Trung tâm Chính sách và Luật Môi trường Yale, Đại học Yale, xem xét 32 chỉ số dé đánh giá hiệu quả môi trường ở 180 quốc gia (Wendling et al. Trong nhiều bài nghiên cứu, các nhà khoa học đều cố cải thiện các chỉ số hiện có và sự dụng các yếu tố chính đề đưa ra đánh giá và quyết định trong các lĩnh vực khác nhau. Jin va cộng sự (2014) đã sử dụng Phân tích Bao bọc Dữ liệu DEA để đo lường hiệu quả hoạt động môi trường ở các cấp độ khác nhau với mô hình đề xuất đã được áp dụng để đánh giá hiệu quả môi trường của các nền kinh tế Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2010. Nghiên cứu về vấn đề này, Chu và cộng sự (2016) đã xây dựng chỉ số hiệu suất môi trường theo cách, trong đó việc lập mô hình các kết quả đầu ra và lựa chọn/ xây dựng các biện pháp hiệu quả là các bước chính.
Meng và cộng sự (2013) đề xuất một phương pháp tiếp cận DEA không xuyên tâm bao gồm cả chỉ số hiệu suất môi trường tĩnh và động (EPI) dé đo lường hiệu suất môi trường. Người ta nhận thấy rằng EPI không xuyên tâm tĩnh có khả năng phân biệt cao hơn EPI thu được từ mô hình DEA định hướng đầu ra không mong muốn không hướng tâm. Kết quả thực nghiệm của chúng tôi cũng cho thấy hiệu quả môi trường của các ngành công nghiệp ở Trung Quốc cải thiện 58% trong giai đoạn 1998-2009, chủ yếu là nhờ sự thay đồi công nghệ. Bằng cách sử dụng dữ liệu EPI và phương pháp tính hiệu quả vượt trội ngẫu nhiên, Pinar và cộng sự (2022) xem xét mức độ nhạy cảm đối với các trọng số chủ quan được gán cho các chỉ số và danh mục hiệu quả hoạt động môi trường.
Các phát hiện này cho thấy sự thay đổi đáng chú ý trong hiệu quả hoạt động môi trường dựa trên các trọng số thay thế được lựa chọn bằng cách sử dụng tiêu chí Thống trị ngẫu nhiên. Ngoài ra, Ismail và Abdullah trong nghiên cứu của họ (Ismail và cộng sự, 2012) đã mô tả một tam nhìn mới về EPI đối với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam A (ASEAN). Họ đã chứng minh rằng phương pháp EPI có nhược điểm về số học, do đó nó đã loại bỏ một số giá trị cực trị trong dữ liệu. Theo đó, điểm nhắn trong khái niệm của họ là sử dụng công cụ ra quyết định của Quy trình phân tích thứ bậc (AHP).
Tuy nhiên, Ban đầu được thiết kế để hỗ trợ và bồ sung các chỉ số môi trường trong Mục tiêu Phát triên Thiên niên kỷ (MDG) của Liên hợp quốc, EPI đã được điều chỉnh thành thước đo của các hiệp ước và công ước môi trường toàn cầu, chẳng hạn như Công ước về Đa dạng sinh học và Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG), nỗ lực phối hợp nhất của cộng đồng quốc tế được thông qua vào năm 2015 nhằm xóa đói giảm nghèo và thúc day phát 6 triển con người bằng cách sử dụng các chỉ số có mục tiêu cụ thể với khung thời gian rõ ràng. EPI là một chỉ số tổng hợp, có mục tiêu, đo lường kết quả của chính sách môi trường theo hai mục tiêu rộng lớn, gắn bó chặt chẽ với nhau: (i) bảo vệ sức khỏe con người va (ii) duy trì sức sống sinh thái. Hiệu suất quốc gia về từng mục tiêu được đo lường bằng 9 hạng mục chính sách bao gồm hơn 20 chỉ số. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện, sử dụng rất nhiều biện pháp nhằm nhóm hiệu suất môi trường thành quá trình tiêu thụ tài nguyên, phát thải và chất thải, hiệu quả, rủi ro, tác động sinh thái, nhận thức người tiêu dùng và các biện pháp liên quan đến tác động tài chính.
Bartolomeo (1995) phát triển một hệ thống hơn cách tiếp cận bằng cách tách các chỉ số hiệu suất khỏi các chỉ số tác động. Các chỉ số hiệu suất được dựa trên các quy trình (sử dụng hiệu quả nguyên liệu thô) và hệ thống (hiệu quả trong việc đạt được lợi ích sinh thái, mục tiêu hiệu quả) hoặc đề cập đến khía cạnh tài chính (hiệu quả kinh tế trong việc thực hiện chương trình môi trường). Các chỉ số tác động đánh giá tác động môi trường về mặt vật chất và điều kiện tiền tệ. Danh mục các biện pháp EP vận hành bao gồm các chỉ số về môi trường ngắn hạn hoạt động cải tiến (Gunther và cộng sự, 2004).
Một số nghiên cứu sử dụng các thước đo đầu vào tập trung vào tiêu thụ nguyên liệu thô, nước, năng lượng và đất đai (Wagner, 2005). Các nghiên cứu khác áp dụng các biện pháp quy trình đề cập đến những thay đổi trong quy trình dẫn đến giảm tác động môi trường. Các thước đo đầu ra được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu thực nghiệm. Các biện pháp được định lượng bằng đơn vị vật lý (ví dụ, lượng khí thải carbon dioxide tính bằng phan triệu, vật lý chất thải phát sinh tính bằng tắn, lượng nước ngọt tiêu thụ tính bằng mét khối, sử dụng đất tính bằng ha, v.), nhưng đều chất thải phát sinh tính bằng tắn, lượng nước ngọt tiêu thụ tính bằng mét khối, sử dụng đất tính bằng ha, v.), được điều chỉnh theo khối lượng sản xuất.
Dữ liệu về lượng chất độc tuyệt đối hoặc tương đối được thải ra hầu hết đều có sẵn công khai. Theo Trung tâm Chính sách và Luật Môi trường Yale, EPI cung cấp một thẻ điểm nêu bật những quốc gia dẫn đầu và tụt hậu trong hoạt động môi trường, đồng thời cung cấp hướng dẫn thiết thực cho các quốc gia mong muốn hướng tới một tương lai bền vững. Bảng 1 xếp hạng EPI tổng thé cho thấy quốc gia nào giải quyết tốt nhất các thách thức môi trường mà mọi quốc gia phải đối mặt. Vượt xa điểm tổng hợp và đi sâu vào dữ liệu dé phân tích hiệu quả hoạt động theo danh mục vấn đề, mục tiêu chính sách, nhóm ngang hàng và quốc gia thậm chí còn mang lại giá trị lớn hơn cho các nhà hoạch định chính sách.
Quan điểm chỉ tiết và quan điểm so sánh này có thé hỗ trợ việc hiểu các yếu tố quyết định tiến bộ môi trường và tinh chỉnh các lựa chọn chính sách. Chính vì vậy, ở nghiên cứu này, tác giả tập trung sử dụng chỉ số Hiệu suất môi trường — Environmental Performance Index dé đánh giá thể hiện hiệu quả hoạt động môi trường của các quốc gia đang phát triển. Từ đó thu thập, phân tích và tổng hợp các yếu tố tác động đến EPI nhằm đề xuất giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu suất môi trường của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia đang phát triển nói chung. Các yếu tô ảnh hưởng đến chỉ số hiệu quả môi trường của các quốc gia dang phát triển trên thế giới Theo Gallego (2014), EPI bao gồm một danh mục các chính sách sức khỏe môi trường nhằm giải quyết tác động của môi trường đối với chất lượng cuộc sống trên toàn thế giới, nhằm giảm áp lực môi trường đối với sức khỏe con người.
Do đó, EPI sử dụng một bộ chi số dé phản ánh sức khỏe môi trường: gánh nặng bệnh tật do môi trường, 6 nhiễm không khí (ảnh hưởng đến sức khỏe con người) và nước (ảnh hưởng đến sức khỏe con người). Nó cũng bao gồm các chỉ số liên quan đến sức sống của hệ sinh thái nhằm giảm sự mat mát hoặc suy thoái hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Các chỉ số này là: ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến hệ sinh thái, ảnh hưởng của nước đến hệ sinh thái, đa dạng sinh học và môi trường sống, tài nguyên thiên nhiên sản xuất (lâm nghiệp, thủy sản và nông nghiệp) và biến đổi khí hậu. Đồng thời, theo Ave (2010), EPI được xây dựng dựa trên các biện pháp liên quan đến mục tiêu giảm căng thẳng về môi trường đối với sức khỏe con người mà chúng tôi gọi là mục tiêu Sức khỏe Môi trường.